Tăng trưởng kinh tế hai chữ số

22 Trần Quốc Toản, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp.HCM
Tiêu điểm
VH & TG: Trung Quốc tiến hành 'cuộc chiến' dài hạn với Mỹ, định hình lại trật tự tài chính toàn cầu Tiền Tệ : Lãi suất mới: Thực tế và dự báo Tin tức: 6 đề xuất đột phá chiến lược của Tập đoàn Vingroup VH & TG: Hòa Bình Potemkin: Nguy Hiểm Giả Tạo Tin tức: Bất động sản, vốn, tiền tệ: Liên kết hiện tại Tin tức: Bất Động Sản Việt Nam: Khác Trung Quốc CN & MT: Điều Hòa: Lối Thoát Hay Bẫy Nhiệt Tiền Tệ : NHNN nói lý do miễn 'room tín dụng' cho 18 dự án Vingroup, Sun Group, Masterise CN & MT: WHO: Đợt nắng nóng ở châu Âu mới chỉ là 'cuộc diễn tập' cho tương lai Tin tức: Mô hình đổi mới kinh tế Việt Nam Tin tức: Vingroup : Quy hoạch ngược từ tương lai BĐS: Thị trường bất động sản 6 tháng cuối năm: “Cửa sổ” cơ hội nay “nước mắt” thanh khoản? Tin tức: Từ thương cảng Sài Gòn đến siêu cảng Cần Giờ CN & MT: El Nino có thể mạnh nhất trong 70 năm, nhiệt độ Thái Bình Dương tăng vọt Tiền Tệ : Tín dụng, Lãi suất 2026: Thận trọng Tin tức: suy nghĩ từ Dragon Capital: Kiến nghị phát triển kinh tế 7.2026 Tiền Tệ : Quy luật 40% và bong bóng tài chính 2026- 2028 CN & MT: Biến đổi khí hậu 2026 Chìa khóa, quán tính và tương lai VH & TG: Tại sao xung đột cảm thấy liên tục bây giờ VH & TG: Chúng ta có thể đang bước vào thời đại trục thứ hai CN & MT: Pháp phá vỡ hơn 100 kỷ lục nhiệt độ cao nhất mọi thời đại CN & MT: CEO GOOGLE: BONG BÓNG AI CÓ THỂ VỠ, KHÔNG NÊN MÙ QUÁNG TIN TƯỞNG AI BĐS: Bong bóng bất động sản - Phần 2: Khi giá nhà vượt xa thu nhập BĐS: Bong bóng bất động sản - Phần 1: Nghịch lý thiếu vốn của nền kinh tế Tin tức: Tương Lai Lõi Trung Tâm TP.HCM 2030 CN & MT: Đảo nhiệt đô thị gia tăng áp lực nắng nóng ở TP Hồ Chí Minh CN & MT: Lịch Sử Phát Triển Văn Minh 1000-1200 CN & MT: Ấn Độ chuẩn bị kịch bản ứng phó El Niño mạnh đe dọa mùa gió mùa khô hạn BĐS: Một phân khúc BĐS từng rất phổ biến đã biến mất khỏi thị trường, chuyên gia chỉ ra xu hướng mới CN & MT: Phục hồi rừng: Thành tựu và thách thức SK & Đời Sống: TP.HCM phác họa tầm nhìn 100 năm: Siêu đô thị đa trung tâm, kết nối biển, dẫn dắt tăng trưởng khu vực SK & Đời Sống: Đô thị hữu cơ - Một logic khác cho đô thị mới SK & Đời Sống: Sài Gòn trong tư liệu cổ: Một đô thị sinh ra để hướng biển Thư Giản: 300 Năm Phát Triển Và Cái Giá Thư Giản: Tương lai 2026-2035: Kịch bản BĐS: Nhóm DN bất động sản chìm trong thua lỗ, 'trắng' doanh thu quý I : Trật tự thế giới trước nghịch lý lớn của thời đại Chứng khoán: Đầu tư nội địa giữa bất ổn toàn cầu : Nếu không sửa luật, dự án bất động sản sẽ tắc trong 10 năm tới VH & TG: Chương trình 3 triệu căn nhà: Indonesia và bài toán an cư cho người thu nhập thấp Tiền Tệ : Tín dụng xanh, rủi ro ESG Việt Nam VH & TG: NHẬT BẢN ĐỐT 73 TỶ USD CỨU ĐỒNG YÊN - HAY ĐANG GIĂNG BẪY TÀI CHÍNH CẢ THẾ GIỚI? SK & Đời Sống: Trật tự vỉa hè và linh hồn của đường phố SK & Đời Sống: Đi tìm sức sống đô thị VH & TG: Phỏng vấn Maud Quessard: “Trump đang hoàn thành quá trình Giải Tây Phương hóa (désoccidentalisation) thế giới mà Putine và Tập mong muốn” SK & Đời Sống: Khủng hoảng nhà ở và tương lai trẻ SK & Đời Sống: Hơn nửa lao động toàn cầu đang chán việc CN & MT: Phi hành đoàn Mặt Trăng vượt qua quả cầu lửa 3.000 độ C Thư Giản: Đại Biến Động Thế Kỷ 21: Vận 9 Thư Giản: Con người trần gian và hành trình vũ trụ Thư Giản: [2020s: Một thập kỷ rung động] Thư Giản: Abhigya Anand và dự báo 2026 Thư Giản: Dự đoán Điểm kỳ dị các vị trí q3 Thư Giản: Gemini đã dự cảm khá rỏ dưới lăng kính của mac ngôn thé giới từ 2050. Nhưng từ 2010 ở... CN & MT: Tương lai Đại dương và Hồi phục Sinh thái BĐS: 3 “ông lớn” chia thị phần bất động sản TP.HCM năm Bính Ngọ: Vinhomes làm siêu dự án ngoại ô, Masterise tiếp tục giữ trung tâm, Sun Group đánh thức vùng ven sông BĐS: Mặt bằng trung tâm TP.HCM: Thực trạng và dự báo VH & TG: Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ: Răn đe Trung Quốc Chứng khoán: 150 nhà đầu tư toàn cầu đến Việt Nam tìm cơ hội "giải ngân" VH & TG: Nhật Bản cân nhắc vũ khí hạt nhân Chứng khoán: PHẦN 3: THỊ TRƯỜNG THĂNG HOA XUẤT TƯỚNG NHỮNG 'ANH HÙNG' Chứng khoán: VN-Index mất gần 30 điểm Chứng khoán: Mía đường Cao Bằng (CBS) chốt quyền trả cổ tức bằng tiền tỷ lệ 30% Chứng khoán: CHỨNG KHOÁN QUÝ 4.2025 Kì 2 BĐS: Không đánh đổi giá nhà lấy tăng trưởng viển vông! BĐS: Thực trạng phân khúc nhà liền thổ tại TPHCM BĐS: 5 lưu ý khi đầu tư LƯỚT SÓNG bất động sản BĐS: Đất ở ổn định 20 năm, không có khiếu kiện, tranh chấp có được cấp sổ đỏ hay không BĐS: Hơn 32.000 căn nhà ở xã hội gần TP.HCM trong kế hoạch xây dựng năm 2025 của Long An
Bài viết
Tăng trưởng kinh tế hai chữ số

    Để đáp ứng các yêu cầu của Kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam cần tăng trưởng kinh tế ở mức hai chữ số liên tục trong một, hai thập kỷ tới...

    Câu hỏi “Tại sao và làm thế nào để tăng trưởng hai chữ số?” không chỉ có tính chất thời sự hiện nay mà đã được đề cập trong các năm trước.

    TẠI SAO CẦN TĂNG TRƯỞNG HAI CHỮ SỐ?

    Câu hỏi này xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau. Góc độ thứ nhất, cũng là đầu tiên, xuất phát từ tư duy. Tư duy về “nguy cơ tụt hậu xa hơn” đã sớm được đề ra từ hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội VII (năm 1993), sau khi đất nước bước đầu ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiềm ẩn từ cuối thập kỷ 70, diễn ra suốt trong thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Công cuộc Đổi mới lần 1 đã góp phần chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường. Mở cửa hội nhập đã có tác dụng thu hút nguồn vốn, sức lao động của các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài cho tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội.

    Tiếp theo, có một số tư duy tích cực, như chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp, về chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ số lượng sang chất lượng, từ chiều rộng sang chiều sâu, ngăn chặn các “nguy cơ tụt hậu xa hơn”, “sập bẫy thu nhập trung bình”, “chưa giàu đã già”,… các tư duy này đã hàm ý cần ưu tiên tăng trưởng. 

    Tăng trưởng kinh tế hai chữ số - Ảnh 1

    Tuy nhiên, trong không ít người cũng có những tư duy ít nhiều ảnh hưởng đến tăng trưởng cao. Việt Nam bị tác động của một số cuộc khủng hoảng, như sự sụp đổ chế độ của một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông Á, Đông Nam Á, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối 2008.

    Đại dịch Covid-19 xuất hiện năm 2020, bùng phát năm 2021...; lạm phát trong một số năm còn cao. Nhiều năm trước còn nhập siêu lớn về hàng hóa; nhập siêu dịch vụ liên tục với quy mô lớn. Ngân sách nhiều năm bội chi, trong khi tỷ lệ so với GDP của vốn đầu tư cao hơn so với của tích lũy tài sản, e ngại tỷ lệ so với GDP của nợ quốc gia tăng lên, dự trữ ngoại hối tăng nhưng đã mấy lần phải đưa ra kích cầu, nên vẫn còn mỏng.

    Tư duy ảnh hưởng đến tăng trưởng có nhiều, trong đó đáng kể có hai điểm nổi trội. Đó là tư duy e ngại “tăng trưởng nóng” tưởng như hợp lý, nhưng lại sai về 2 mặt. Một mặt, đối với Việt Nam, giá trị 1% tăng lên của GDP chỉ ở mức vài tỷ USD (năm 2024 là khoảng 4,7 tỷ USD); trong khi đối với nhiều nước trên thế giới, giá trị 1% tăng lên của GDP có thể lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ USD. Từ đó suy ra dù Việt Nam có tăng đến 5% thì cũng chỉ tăng vài chục tỷ USD, do vậy chưa thể lo việc tăng trưởng cao của Việt Nam được gọi là “nóng”.

    Mặt khác, chỉ khi nào in tiền ồ ạt để đầu tư, tiêu dùng để tăng tổng cầu trong nước, hoặc tăng tỷ giá VND/USD rất cao để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, xuất siêu để hỗ trợ tăng tổng cung (GDP sản xuất) ở trong nước, bù đắp một phần cho tổng cầu trong nước còn yếu.

    Tư duy e ngại định hướng xuất khẩu của nền kinh tế là chưa hợp lý, ảnh hưởng tiêu cực đối với định hướng ưu tiên tăng trưởng. Thực ra xuất khẩu cao dẫn đến xuất siêu, không chỉ có tác động đến vị thế của Việt Nam trong quan hệ bán buôn với nước ngoài, đạt thặng dư trong cán cân thương mại (một nội dung lớn và là tiền đề của bội thu cán cân thanh toán quốc tế, tăng dự trữ ngoại hối, cải thiện khả năng thanh toán, góp phần ổn định thị trường ngoại hối,...), mà còn đóng góp vào tăng trưởng GDP, trong điều kiện tổng cầu trong nước còn yếu hơn tổng cung trong nước, thực chất là “lối ra” của sản xuất trong nước.

    Góc độ thứ hai, cũng là lý do để dễ hiểu nhất, đó là Việt Nam có điểm xuất phát thấp. Điểm xuất phát thấp là hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, kéo dài từ cuối thập kỷ 70 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Hậu quả rõ nhất của cuộc khủng hoảng này là tăng trưởng GDP một số năm bị giảm hoặc tăng thấp.

    Tốc độ tăng GDP bình quân năm của thời kỳ 1977 - 1980 (0,4%) thấp xa so với tốc độ tăng dân số (2,4%,). GDP bình quân đầu người tăng thấp, có năm còn bị giảm (như năm 1978, 1979, 1980); năm 1988 chỉ còn 86 USD - nằm trong nhóm nước và vùng lãnh thổ có mức thấp nhất thế giới. Phải 20 năm sau (năm 2008), Việt Nam mới ra khỏi nhóm nước có thu nhập trung bình thấp; GDP bình quân đầu người vượt qua mốc 1.000 USD, năm 2024 cán mốc 4.700 USD.

    Lạm phát phi mã với CPI tăng 2 - 3 chữ số như năm 1986 (774,7%); 1987 (222,1%); 1988 (349,4%); 1989 (36%); 1990 (67,1%); 1992 (17,5%); 1994 (14,4%); 1995 (12,7%); từ năm 2007 đến 2011 vẫn tăng hai chữ số.

    Cán cân thương mại bị thâm hụt trong nhiều năm với quy mô lớn. Trong 40 năm qua, có 27 năm nhập siêu hàng hóa, trong đó có 21 năm mức nhập siêu lên đến trên 1 tỷ USD, chủ yếu trong thời kỳ từ năm 1985 đến 2011. Cán cân dịch vụ liên tục thâm hụt với quy mô không nhỏ: trong các năm qua có 15 năm mức nhập siêu lên đến trên 1 tỷ USD, đặc biệt có năm đặt trên 12 tỷ USD.

    Do cán cân thương mại và cán cân dịch vụ như trên, nên cán cân tổng thể bị thiếu hụt lớn, không chỉ về hàng hóa tiêu dùng thiết yếu và các nguyên, nhiên, vật liệu quan trọng. Những năm gần đây tuy có thặng dư nhưng không nhiều, thậm chí có năm còn bị thiếu hụt (năm 2015, 2022), đặc biệt năm 2022 bị thiếu hụt lớn (22.746 triệu USD).

    Dự trữ ngoại hối đã được cải thiện, có năm đã vượt qua mốc 100 tỷ USD, nhưng có nhiều năm còn khá mỏng, đặc biệt có 2 đợt kích cầu do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và do tác động của đại dịch Covid-19. Từ vài năm nay, dự trữ ngoại hối bị giảm, hiện cách mức đỉnh gần 20 tỷ USD. Thất nghiệp có năm ở mức lớn (năm 1988 là 13%).

    Góc độ thứ ba, tuy Việt Nam có số năm tăng trưởng liên tục dài thuộc nhóm nước và vùng lãnh thổ đứng đầu thế giới, nhưng do tốc độ tăng nhiều năm còn thấp, nên thứ bậc của tổng GDP và GDP bình quân đầu người còn thấp xa so với thứ bậc về dân số (thứ 37, thứ 122 so với thứ 14). Cũng do vậy, thứ bậc về tổng GDP, về GDP bình quân đầu người và nhiều chỉ tiêu khác về xã hội của Việt Nam so với nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới vẫn còn lớn, thậm chí khoảng cách xa hơn, làm cho Việt Nam vẫn đứng trước nguy cơ “tụt hậu xa hơn” và nguy cơ “chưa giàu đã già” nếu tốc độ tăng GDP không cao lên.

    Góc độ thứ tư,  trong 5 “đỉnh” của “ngũ giác mục tiêu” (tăng trưởng nhanh; lạm phát thấp; cán cân thanh toán có số dư; thất nghiệp ít; môi trường được bảo vệ và cải thiện), thì tăng trưởng nhanh là “đỉnh” đầu tiên và có tác động đến 4 “đỉnh” khác của “ngũ giác”.

    Với vai trò là tiền đề vật chất, tăng trưởng nhanh là điều kiện vật chất để cải thiện quan hệ tổng cung trong nước với tổng cầu trong nước, giữa sản xuất với tiêu dùng làm giảm áp lực đối với lạm phát. Tăng trưởng nhanh tạo điều kiện vật chất để tăng xuất khẩu hàng hóa, tăng xuất khẩu dịch vụ, giảm áp lực đối với nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, khắc phục nhập siêu hàng hóa, dịch vụ, cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, đảm bảo an toàn tài chính của quốc gia.

    Tăng trưởng nhanh là điều kiện vật chất để tạo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp. Tăng trưởng nhanh tạo tiền đề vật chất để phòng chống tác động xấu và tiêu cực của môi trường, cải thiện môi trường.

    Góc độ thứ năm, Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ để tăng trưởng cao hơn, không thể bỏ lỡ, đó là: lượng vốn đầu tư nước ngoài không chỉ tăng về lượng vốn mà còn được nâng cao về chất lượng, về kỹ thuật - công nghệ; từ sự ra đời của các trung tâm tài chính quốc tế được thành lập tại Việt Nam có sức mạnh về số lượng, về chất lượng; từ các thị trường vừa rộng, vừa lớn, vừa có ưu đãi nhiều mặt.

    Thời cơ đến từ sự thu hút lượng khách quốc tế đến Việt Nam vừa đông, vừa từ nhiều nước, vùng lãnh thổ, vừa mạnh tay mua sắm, chi tiêu, tạo điều kiện tăng “mật độ” số lượt khách/100 dân, vừa tăng số ngày, vừa tăng mức chi tiêu bình quân 1 ngày, 1 lượt người và tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ du lịch. Ngoài ra, thời cơ còn đến từ nhiều mối quan hệ khác, trong đó có các nước tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, nâng cấp các quan hệ ngoại giao (nâng thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, toàn diện).

    Góc độ thứ sáu, yêu cầu của Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đòi hỏi Việt Nam phải tăng tốc, với tốc độ cao (hai chữ số), với thời gian dài (một, hai thập kỷ).

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẠT TĂNG TRƯỞNG HAI CHỮ SỐ?

    Để đạt tăng trưởng hai chữ số, trước hết, cần đổi mới tư duy, phải coi đây như là một cuộc cách mạng, là sự khởi đầu của cuộc Đổi mới lần 2. Đây là một trong những nội dung lớn của Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

    Tăng trưởng hai chữ số trong một thời gian dài là trạng thái chưa bao giờ có đối với Việt Nam trong 50 năm kể từ khi thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Tốc độ tăng trưởng cao nhất chỉ đạt trên dưới 8,5% trong thời kỳ 1992 - 1997, sau khi có đường lối Đổi mới, mở cửa, vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Kết quả của công cuộc Đổi mới 1 cũng chưa có năm nào đạt được hai chữ số. Tăng tốc trong kỷ nguyên này cao gần gấp đôi tốc độ tăng bình quân năm tính từ thời kỳ từ khi đổi mới đến nay.

    Hơn nữa, việc tăng tốc này phải thực hiện khi số gốc đã cao lên khá nhiều, 1% tăng lên đã tương đương với 4,7 tỷ USD, tăng 10% tức là phải tăng tới 47 tỷ USD - đó là một con số không nhỏ. Do vậy, việc thực hiện tăng tốc là một thách thức không nhỏ, tư duy phải chuyển đổi rất mạnh, các giải pháp còn phải cao hơn nữa.

    XÉT THEO 3 ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC 

    Ba đột phá chiến lược (thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng) đã sớm được đề ra và thực hiện đạt được nhiều kết quả, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm.

    Đột phá về thể chế còn có hạn chế trong việc xác định vai trò, một số nội dung cụ thể. Về vai trò của đột phá này đến nay được xác định ở tầm cao mới là “then chốt của then chốt” - được hiểu là “mở đường”, là “toàn diện”, là “liên tục, không ngừng”.

    “Mở đường” là phải làm đầu tiên, phải tác động, tạo tiền đề cho các đột phá chiến lược còn lại và khi đánh giá kết quả tích cực của các đột phá chiến lược khác cũng phải xem xét đến tác động của đột phá chiến lược về thể chế.

    “Toàn diện” là phải thực hiện trên tất cả các mặt, từ kinh tế - xã hội, đến tổ chức bộ máy và cán bộ thực hiện. Khi chuyển sang kinh tế thị trường đã 40 năm mà tổ chức bộ máy vẫn còn cồng kềnh từ Trung ương đến các địa phương; tình trạng tách - nhập cứ diễn đi diễn lại; vai trò của Nhà nước và thị trường, giữa “bàn tay hữu hình” với “bàn tay vô hình”.

    Kinh tế tư nhân là động lực cũng được xác định sớm, nhưng cho đến nay thành phần này trong mấy chục năm vẫn chỉ chiếm trên dưới 10% GDP;  cá thể vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất và không thật sự là kinh tế tư nhân chiếm phần lớn trong khu vực ngoài nhà nước. “Sở hữu chéo”, “sân sau”, sự liên kết giữa quan chức với các chủ doanh nghiệp làm méo mó thị trường... vẫn còn tồn tại, lan rộng đến tận cấp cao. “Liên tục, không ngừng” bị cản trở bởi sự “lưỡng lự” ở một số thời gian, một số bộ phận...

    Đột phá về nguồn nhân lực cũng được đề ra rất sớm và đã đạt được một số kết quả tích cực. Tỷ lệ lao động được đào tạo liên tục tăng, từ mức rất thấp lên mức 28% năm 2024. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn thấp, chất lượng đào tạo với thực tế làm việc vẫn còn khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, giữa công việc với sáng tạo, giữa sự phân bố với sử dụng, giữa cơ cấu trình độ các loại... Thị trường lao động đã bước đầu hình thành và phát triển, nhưng chưa đủ sâu rộng và chất lượng, nhất là việc sử dụng nhân tài ở nhiều đơn vị, cơ quan còn hạn chế. 

    Cơ sở hạ tầng được hình thành và phát triển, góp phần thay đổi bộ mặt thành thị, nông thôn, với hệ thống đường giao thông, sân bay, bến cảng, nhưng năng lực vận tải, nhất là bến cảng, đội tàu viễn dương, thành phố khoa học, trung tâm tài chính, hệ thống đường sắt... vẫn còn nhiều hạn chế. 

    XÉT THEO SỰ ĐÓNG GÓP VÀO TĂNG TRƯỞNG CHUNG CỦA CÁC NHÓM NGÀNH 

    Có thể thấy cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu tất yếu sẽ là tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản sẽ tiếp tục giảm, tỷ trọng của công nghiệp - xây dựng tăng và tỷ trọng của dịch vụ sẽ còn cao hơn nữa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp.

    Tuy nhiên, do lợi thế về đất đai, khí hậu, trong điều kiện các nước đông dân đang chuyển nhanh sang công nghiệp, dịch vụ, thì vẫn còn phải tăng tỷ trọng đầu tư cho nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Trong việc chuyển dịch cơ cấu nội bộ nhóm ngành, trong việc tăng chế biến để tăng giá trị, quan trọng nhất là chuyển dịch số lao động nhóm ngành này (hiện đang còn cao gấp hơn hai lần tỷ trọng về GDP) sang nhóm ngành công nghiệp, dịch vụ.

    Đối với công nghiệp, quan trọng nhất là khắc phục hai hạn chế lớn là công nghiệp phụ trợ còn yếu và tính gia công lắp ráp còn nặng; phát triển công nghiệp mới (bán dẫn, chip...). Đối với dịch vụ, cần tăng tỷ trọng của các ngành dịch vụ động lực như khoa học - công nghệ, tài chính - tiền tệ, vận tải, kho bãi, du lịch...

    XÉT THEO CÁC YẾU TỐ CÓ TĂNG TRƯỞNG 

    Cần phát huy tốt hơn các động lực truyền thống và làm tốt ngay các động lực mới.

    Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP hiện vẫn còn ở mức trên 30%. Đây là mức cao trên thế giới, đã góp phần làm cho GDP của Việt Nam tăng trưởng liên tục trong thời gian dài và gần đây đạt mức cao thuộc top đầu trên thế giới, ngay cả khi gặp đại dịch Covid-19. Thời gian tới đây có bốn vấn đề cần quan tâm.

    Một, cần phải duy trì tỷ lệ này và đưa lên mức cao hơn, bởi vốn đầu tư phát triển là yếu tố vật chất quyết định tăng trưởng GDP; trong đó cần khuyến khích thu hút vốn ở khu vực ngoài nhà nước để đưa tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư lên cao hơn nữa (lên 60 - 70% so với trên 50% hiện nay).

    Hai, hướng một lượng vốn không nhỏ sẽ và đang đầu tư vào các kênh vàng, bất động sản, tiền ảo... để chuyển sang kênh trực tiếp sản xuất kinh doanh.

    Ba, quan trọng hơn là tăng hiệu quả đầu tư trên cơ sở giảm hệ số ICOR hiện còn ở mức cao (trên 5,5 lần, cao hơn mức 3 lần của nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới), giảm nhanh xuống 3-4 lần. Các biện pháp để giảm hệ số ICOR chủ yếu là đưa vốn đầu tư, thi công nhanh, đưa công trình vào hoạt động, giảm lãng phí, thất thoát,…

    Bốn, tập trung vốn để nâng cao năng lực đội tàu viễn dương, cảng biển, đường sắt liên vận, đường nối với các vùng có tiềm năng xuất khẩu; nâng cao chất lượng nguồn vốn FDI…

    Về tiêu dùng, tuy tốc độ tăng có được cải thiện, nhưng hiện có một số vấn đề cần quan tâm. Áp lực “tích cốc phòng cơ”, “thắt lưng buộc bụng” xuất hiện trong thời gian đại dịch Covid-19 vẫn còn tiếp tục đối với tâm lý người tiêu dùng. Thu nhập của người lao động vẫn còn thấp, ảnh hưởng lớn đến sức mua và khả năng thanh toán của người tiêu dùng. Có một lượng hàng tiêu dùng không nhỏ được nhập lậu giành một phần thị trường trong nước, thậm chí còn đội lốt hàng Việt Nam “né” thuế khi xuất khẩu ra nước ngoài giành thị phần xuất khẩu của Việt Nam.

    Về xuất khẩu hàng hóa, năm 2024 với kim ngạch đạt trên 405,5 tỷ USD đã lập “đỉnh” mới. Điều quan trọng là mức xuất siêu đạt gần 24,8 tỷ USD, thuộc loại khá cao và là năm thứ 9 liên tiếp xuất siêu... Tuy nhiên có một số vấn đề cần lưu ý. Ở trong nước, phải tăng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước; giảm mức nhập siêu, tăng tiến tới thăng bằng cán cân thương mại hàng hóa của khu vực này; đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, giảm nhanh tính gia công lắp ráp của sản xuất công nghiệp...

    Ở nước ngoài, cần giải quyết một số vấn đề: (i) tham gia nhiều hơn các Hiệp định thương mại tự do (FTA); (ii) mở rộng các thị trường, tránh “bỏ trứng vào một giỏ”; (iii) cải thiện hơn nữa tính thị trường của nền kinh tế trong nước, sử dụng mạnh hơn và kết hợp “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”, tăng cường hội đàm để các nước, đặc biệt là Mỹ và EU, công nhận kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, cần cẩn trọng khi tăng tỷ giá VND/USD. 

    Các động lực mới của tăng trưởng có một số vấn đề cần được các viện hàn lâm, nhất là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu kỹ, đề xuất nội dung và cách làm, có thông tin minh họa.

    Một việc cần đặc biệt quan tâm là chất lượng tăng trưởng, không những không bị giới hạn về nguồn (thậm chí có liên quan đến trí tuệ thì gần như là vô hạn) mà không có những hiệu ứng phụ.

    Đỗ Minh Đức - Theo VnEconomy

    THỐNG KÊ TRUY CẬP
    • Đang online 23
    • Truy cập tuần 6269
    • Truy cập tháng 2706
    • Tổng truy cập 695296