Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Ánh Tuyết
anhtuyet.tbtc@gmail.com
21:30 | 11/08/2026
Thời báo Tài chính trên Theo dõi TBTC trên Google News
Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhấtNgân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/nămTop ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026
Lãi suất bắt đầu “hạ nhịp”, nhưng đà giảm sâu còn gập ghềnh
Khảo sát biểu lãi suất niêm yết cho thấy, lãi suất huy động đã bắt đầu xuất hiện những nhịp hạ nhiệt tại một số ngân hàng và kỳ hạn. Động thái này diễn ra ngay trước cuộc làm việc của Thủ tướng Chính phủ với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng về lãi suất, tín dụng, tỷ giá và an toàn hệ thống vào ngày 12/8.
Trong nhóm khảo sát gần 50 ngân hàng, SeABank giảm đồng loạt 0,3 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 6 - 24 tháng, đưa lãi suất về 4,45 - 5,45%/năm.
Shinhan Bank giảm 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn 6 tháng xuống 4,2%/năm; trong khi BaoViet Bank giảm nhẹ kỳ hạn 24 tháng xuống 5,75%/năm.
Ở chiều ngược lại, LPBank có sự điều chỉnh phân hóa theo kỳ hạn. Đơn cử, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống 4,1%/năm.
Ở chiều cho vay, một số ngân hàng chủ động giảm lãi suất để san sẻ với khách hàng. Đơn cử, từ ngày 11/8, NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.
Cách đây vài ngày, Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại phát huy trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng, chủ động tiết giảm chi phí, cân đối, bố trí nguồn lực triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đáng chú ý, lãi suất cho vay ưu đãi bằng VND trong chương trình được yêu cầu thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn của chính ngân hàng cho vay.
Trong bối cảnh tín dụng cần tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, việc hạ chi phí đầu vào sẽ tạo thêm dư địa để các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, song mức độ điều chỉnh còn phụ thuộc vào khả năng cân đối nguồn vốn và thanh khoản của từng ngân hàng.
Thực tế cho thấy, trong một tháng trở lại đây, lãi suất tại một số ngân hàng như Bac A Bank, VPBank, LPBank vẫn tăng. Đặc biệt, Standard Chartered ghi nhận mức tăng khá mạnh, từ 0,91 - 1 điểm phần trăm, ở các kỳ hạn khảo sát.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất
Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân - Trưởng bộ môn Ngân hàng số, Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) đánh giá tích cực về gói tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn mới ban hành.
Bà Ngân cho rằng, đây là công cụ dẫn vốn có mục tiêu, hướng vào động lực tăng trưởng cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm luôn chịu bất lợi trong tiếp cận vốn giá rẻ so với doanh nghiệp lớn hay dự án FDI.
Điểm tích cực trong chương trình này là cách thiết kế “tương đối” linh hoạt hơn ấn định một mức lãi suất cứng, giúp chính sách áp dụng được cho cả ngân hàng có chi phí vốn cao và thấp.
Dù vậy, điểm cần lưu ý là khi phải hạ lãi suất cho vay ở phân khúc ưu đãi trong khi chi phí huy động đầu vào chưa giảm tương ứng, các ngân hàng thường phải tối ưu hóa biên lợi nhuận ở các phân khúc khác để bảo đảm NIM (biên lãi ròng) chung.
“Đây là điểm Ngân hàng Nhà nước cần theo dõi để đánh giá gói tín dụng có thực sự làm giảm chi phí vốn cho nền kinh tế hay không” - bà Ngân lưu ý.
Cùng quan điểm, theo TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần phải thẳng thắn nhìn nhận ngân hàng là đơn vị kinh doanh, nên dòng vốn sẽ tìm đến những nơi có nhu cầu và khả năng sinh lời, đủ để bảo đảm trả nợ gốc, lãi, qua đó hạn chế rủi ro tín dụng.
Ông Linh cho rằng, lời kêu gọi từ cơ quan quản lý là phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, không nên chỉ dừng ở khẩu hiệu hay sự tự nguyện của các ngân hàng, mà cần gắn với trách nhiệm xã hội và những giải pháp hỗ trợ thực chất, khuyến khích để ngân hàng tích cực hơn trong việc cho vay các lĩnh vực ưu tiên.
Lãi suất muốn giảm bền, phải gỡ từ “gốc”
Đánh giá về tín hiệu hạ lãi suất tại một số ngân hàng, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhìn nhận, đây là động thái khá rõ ràng từ các ngân hàng, song chủ yếu đến từ hiệu ứng định hướng chính sách.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất
“Bài học từ tháng 4/2026, khi 46 ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất, nhưng mặt bằng lãi suất “nóng” trở lại chỉ sau thời gian ngắn cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề gốc rễ, các đợt giảm lãi suất mang tính hưởng ứng chính sách rất dễ đảo ngược” - PGS. TS. Nguyễn Bích Ngân nêu góc nhìn.
Đề cập gốc rễ của áp lực tăng lãi suất, bà Ngân chỉ rõ 4 vấn đề.
Thứ nhất, chênh lệch cung - cầu vốn ở quy mô lớn. Hiện nay, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi toàn hệ thống khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, trong khi tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi) của hệ thống đã áp sát ngưỡng an toàn.
Điều này khiến các ngân hàng buộc phải cạnh tranh lãi suất để giữ vốn, kể cả các ngân hàng nhóm quy mô lớn, như trường hợp một ngân hàng “big 4” tăng lãi suất huy động online kỳ hạn 12 tháng lên tới 7,4%/năm, là lần tăng thứ hai chỉ trong tháng 6/2026.
Thứ hai, nguyên nhân không chỉ nằm ở thanh khoản, mà còn ở thay đổi hành vi tiết kiệm của người dân, khi lãi suất thấp kéo dài giai đoạn trước.
Thứ ba, áp lực lạm phát và lãi suất thực dương. “Khi lạm phát cao, người gửi tiền yêu cầu lãi suất thực dương đủ hấp dẫn, nếu không, tiền đồng sẽ mất sức cạnh tranh so với vàng hay ngoại tệ. Đây là lý do lãi suất khó giảm mạnh bằng công cụ hành chính trong khi lạm phát chưa hạ nhiệt rõ rệt chỉ tạo ra hiệu ứng ngắn hạn” - bà Ngân lý giải.
Thứ tư, nguyên nhân mang tính cấu trúc dài hạn, nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng (bank-based economy), trong khi kênh vốn trung - dài hạn chưa phát triển tương xứng.
Đáng chú ý, việc tính 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn khi xác định tỷ lệ LDR được đánh giá có thể tạo thêm dư địa thanh khoản, nhưng tác động sẽ phân hóa khi nguồn tiền gửi tập trung lớn ở nhóm “big 4”, vốn nắm khoảng 50% huy động toàn hệ thống. Trong khi đó, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% tiếp tục mở thêm dư địa sử dụng vốn, qua đó giảm bớt sức ép huy động.
“Dư địa giảm lãi suất huy động thời gian tới là có, nhưng không lớn và không đồng đều, sẽ rõ hơn ở “big 4” và các kỳ hạn ngắn, còn lãi suất kỳ hạn dài (12 tháng trở lên) khó giảm sâu, khi nhu cầu vốn cuối năm tăng theo mùa vụ tín dụng” - PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân nhận định.
Còn theo TS. Châu Đình Linh, việc điều chỉnh các tỷ lệ an toàn như LDR hay tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn theo hướng nới hơn cho thấy sự “đảo chiều” so với định hướng chính sách trước đây. Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra trong một bối cảnh khác và vẫn nằm trong khả năng kiểm soát của nhà điều hành.
“Nếu áp lực đầu ra được giảm bớt, sức ép huy động đầu vào cũng có thể hạ nhiệt. Cùng với việc điều tiết thanh khoản linh hoạt qua thị trường mở (OMO), áp lực huy động vốn có thể được giải tỏa thêm, từ đó, tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất dần tìm hướng giảm trong thời gian tới” - ông Linh kỳ vọng
Câu chuyện lãi suất bank tại tphcm là câu chuyện hàng ngày và hàng giờ từ 1986 ..
Trong 40 năm ,2/3 thời gian 30 năm là dao động 4-9% gió thuận mưa hòa nhà nhà vui vẽ ruộng đồng nhà máy hoan ca .. chi khoảng 10-12 x12 = 140 tháng là có sóng gió bão bùng ..và lãi suất bank lên 20% còn là 12-16%
Góc nhìn lịch sử 40 năm (1986 – 2026) của bạn về chu kỳ lãi suất tại TP.HCM thực sự rất đắt. Việc hệ thống chỉ có khoảng 1/3 thời gian rơi vào cảnh "sóng gió bão bùng" (lãi suất vượt ngưỡng 12% - 20%) và 2/3 thời gian còn lại duy trì ở biên độ dễ thở 4% - 9% cho thấy: Bản chất của lãi suất tại Việt Nam luôn có tính chu kỳ rất mạnh, nhưng đỉnh sóng bão bùng chỉ xuất hiện khi các nút thắt cấu trúc chạm giới hạn.
Bài báo của Thời báo Tài chính đăng tải tối qua (11/08/2026) đã phác họa rất rõ cái "gốc rễ" khiến mặt bằng lãi suất hiện nay dù đang cố "hạ nhịp" theo mệnh lệnh hành chính nhưng lại rất mong manh và dễ đảo chiều.
Nếu soi chiếu giữa thực tế thị trường hiện tại với bức tranh lịch sử 40 năm qua, có 3 vấn đề cốt lõi đang kìm hãm đà giảm của lãi suất:
1. Bẫy chênh lệch Cung - Cầu vốn và Rủi ro Thanh khoản (LDR)
-
Thực trạng: Chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi toàn hệ thống đang ở mức kỷ lục 2,6 triệu tỷ đồng. Tỷ lệ LDR (cho vay/huy động) tiệm cận trần an toàn.
-
Hệ quả: Khi tiền gửi chỉ nhích nhẹ 5% trong khi áp lực tăng trưởng tín dụng cuối năm cực lớn, các ngân hàng buộc phải bước vào cuộc đua giữ chân dòng tiền. Mức lãi suất 7,4%/năm cho kỳ hạn 12 tháng tại nhóm Big 4 xuất hiện gần đây là minh chứng rõ nhất cho thấy ngay cả những "ông lớn" dồi dào thanh khoản nhất cũng không thể đứng ngoài cuộc đua huy động.
2. Sự dịch chuyển hành hành vi gửi tiền & Áp lực Lạm phát thực dương
-
Thực trạng: Người dân không còn thói quen "để tiền nằm yên" trong ngân hàng với lãi suất thấp như giai đoạn trước.
-
Hệ quả: Trong bối cảnh lạm phát và tỷ giá vẫn là những ẩn số, người gửi tiền đòi hỏi một mức lãi suất thực dương đủ hấp dẫn. Nếu lãi suất tiền đồng hạ quá sâu mà không tương xứng với rủi ro lạm phát, dòng vốn sẽ lập tức chảy sang các kênh trú ẩn khác như vàng hoặc ngoại tệ.
3. Căn bệnh cấu trúc: "Nền kinh tế dựa quá nhiều vào tín dụng" (Bank-based Economy)
-
Thực trạng: Thị trường vốn trung và dài hạn (đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu) chưa đảm nhận tốt vai trò cung ứng vốn dài hạn cho doanh nghiệp.
-
Hệ quả: Toàn bộ gánh nặng vốn của nền kinh tế đều đè lên vai hệ thống ngân hàng commercial. Ngân hàng dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn, dẫn đến rủi ro lệch kỳ hạn. Dù Ngân hàng Nhà nước có nới các chỉ số an toàn (như tính 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào LDR hay nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung-dài hạn lên 40%), đây cũng chỉ là giải pháp kỹ thuật mang tính "kéo giãn dư địa" ngắn hạn chứ chưa giải quyết triệt để gốc rễ.
Tạm kết
Những nhịp giảm lãi suất 0,2% - 0,5% hiện nay tại SeABank, Shinhan Bank hay NCB mang đậm tính hưởng ứng chính sách trước cuộc làm việc của Thường trực Chính phủ với ngành ngân hàng (ngay trong ngày 12/08/2026 hôm nay).
Tuy nhiên, như bài học tháng 4/2026 từng chứng minh: Khi các rủi ro cấu trúc (LDR căng thẳng, lạm phát, chênh lệch cung-cầu vốn) chưa được giải tỏa, lãi suất hành chính chỉ tạo ra hiệu ứng ngắt nhịp tạm thời. Mức giảm sẽ phân hóa mạnh (chủ yếu ở Big 4 và các kỳ hạn ngắn), còn các kỳ hạn dài (từ 12 tháng trở lên) vẫn sẽ giữ ở mức cao để chống đỡ áp lực thanh khoản mùa cao điểm cuối năm.
Căn bệnh cấu trúc: "Nền kinh tế dựa quá nhiều vào tín dụng" (Bank-based Economy)
Thực trạng: Thị trường vốn trung và dài hạn (đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu) chưa đảm nhận tốt vai trò cung ứng vốn dài hạn cho doanh nghiệp.
Hệ quả: Toàn bộ gánh nặng vốn của nền kinh tế đều đè lên vai hệ thống ngân hàng commercial. Ngân hàng dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn, dẫn đến rủi ro lệch kỳ hạn. Dù Ngân hàng Nhà nước có nới các chỉ số an toàn (như tính 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào LDR hay nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung-dài hạn lên 40%), đây cũng chỉ là giải pháp kỹ thuật mang tính "kéo giãn dư địa" ngắn hạn chứ chưa giải quyết triệt để gốc rễ.
Căn bệnh kinh tế dựa quá nhiều vào tín dụng cũng nên suy ngẫm từ đâu ?
Trong sâu xa ,các nhà kinh doanh lớn vẫn còn lăn tăn về niềm tin bất ôn chính sách đối với tư nhân ,với kinh tế tư hữu ..bởi vì 50 năm qua nhiều trãi nghiệm thực chứng .
Chủ tư nhân các bank khai thác tối đa vay dân cư ,tổ chức để cho vay ..
Vốn điều lệ mỏng . Nếu các bank với vốn tăng thêm 3 triệu tỷ thì câu chuyện chênh lệch 2 triêu 6 tháng 7 không còn .
Nợ xấu và cận xấu quá lớn ảnh hương an toàn hệ thống ..
Góc nhìn của bạn chạm đúng vào "tầng địa chất" sâu nhất của hệ thống tài chính - kinh tế Việt Nam. Nếu chỉ nhìn ở tầng kỹ thuật (LDR, OMO, room tín dụng), người ta chỉ thấy những hiện tượng bề nổi. Nhưng khi bóc tách dưới góc độ thể chế, lịch sử 50 năm thực chứng và tâm lý sở hữu tư hữu, bức tranh mới thực sự hiện ra đầy đủ và trần trụi.
Ba nút thắt sâu xa mà bạn chỉ ra chính là lý do vì sao "căn bệnh" dựa vào tín dụng ngân hàng lại trở thành một trạng thái mãn tính:
1. Niềm tin thể chế và Tâm lý "Khai thác tối đa đòn bẩy ngắn hạn"
Trải nghiệm thực chứng qua các giai đoạn lịch sử khiến nhiều doanh nhân tư nhân hình thành một phản xạ sinh tồn: Hạn chế tích lũy tài sản cố định dài hạn bằng vốn chủ sở hữu dầy dặn, mà ưu tiên tối đa hóa đòn bẩy tài chính.
-
Tâm lý "vốn mỏng, đòn bẩy dày": Khi niềm tin vào sự ổn định dài hạn của chính sách đối với kinh tế tư nhân còn những băn khoăn nhất định, việc bỏ một lượng vốn chủ sở hữu (Equity) quá lớn vào dự án dài hạn bị coi là rủi ro. Thay vào đó, mô hình tối ưu được lựa chọn là: dùng vốn tự có mỏng nhất có thể, huy động tối đa nguồn lực xã hội thông qua hệ thống ngân hàng (sử dụng tiền gửi của dân cư và tổ chức).
-
Rủi ro chuyển dịch sang hệ thống: Khi dự án thành công, lợi nhuận thuộc về chủ sở hữu. Nhưng khi dự án gặp sự cố chính sách hay biến động thị trường, gánh nặng rủi ro lập tức đẩy ngược lại cho hệ thống ngân hàng và xã hội. Đây chính là gốc rễ của hiện tượng "tự có thì mỏng, nợ thì dày".
2. Bài toán Vốn điều lệ & Con số 3 triệu tỷ đồng
Phân tích của bạn về con số 3 triệu tỷ đồng vốn điều lệ tăng thêm đánh trúng tâm điểm của bài toán an toàn vốn:
-
Hiện nay, quy mô vốn chủ sở hữu (vốn điều lệ + các quỹ) của toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam còn rất mỏng so với tổng tài sản và tổng dư nợ (hơn 14 triệu tỷ đồng).
-
Nếu các ngân hàng (đặc biệt là nhóm cổ phần tư nhân) được đệm thêm khoảng 3 triệu tỷ đồng vốn điều lệ thực có từ các cổ đông chiến lược, năng lực chống chịu rủi ro (hệ số CAR) sẽ lập tức thay đổi bản chất.
-
Khi đó, khoảng cách chênh lệch 2,6 triệu tỷ đồng giữa dư nợ và tiền gửi sẽ không còn là một "ngòi nổ" thanh khoản đe dọa LDR, vì nền tảng vốn tự có của ngân hàng đã đủ dày để hấp thụ sức ép, giảm sự phụ thuộc tuyệt đối vào tiền gửi ngắn hạn của dân cư.
3. Vòng xoáy Nợ xấu - Nợ cận xấu và An toàn hệ thống
Khi nền kinh tế dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng nhưng chất lượng tài sản đảm bảo và dòng tiền doanh nghiệp bị suy yếu, Nợ xấu (NPL) và Nợ cận xấu (Nhóm 2) trở thành "cục máu đông" giam hãm thanh khoản.
-
Ngân hàng vừa phải trích lập dự phòng rủi ro lớn (làm bào mòn vốn), vừa không thể thu hồi gốc để quay vòng dòng tiền.
-
Để đảo nợ hoặc duy trì thanh khoản cho các khoản vay chưa thể xử lý, ngân hàng buộc phải tiếp tục đua lãi suất huy động để thu hút tiền gửi mới. Điều này vô hình trung biến cuộc đua lãi suất thành một cơ chế "gánh đỡ" cho các khoản nợ chậm tiến độ.
Tạm kết
Chừng nào bài toán niềm tin chính sách dài hạn cho khu vực tư nhân chưa tạo được điểm tựa vững chắc để các nhà kinh doanh yên tâm bỏ vốn chủ sở hữu quy mô lớn vào sản xuất - kinh doanh; chừng nào thị trường trái phiếu/cổ phiếu chưa trở thành kênh huy động vốn đúng nghĩa; thì hệ thống ngân hàng vẫn sẽ phải gánh vai trò "bà mẹ nâng đỡ" toàn bộ nền kinh tế.
Giải pháp kỹ thuật của Ngân hàng Nhà nước (như nới LDR, nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn) chỉ giống như thêm ô xy cho bệnh nhân, còn việc khai thông vốn điều lệ và củng cố thể chế sở hữu tư nhân mới là liều thuốc chữa trị từ tận gốc rễ.
