Bàn về các kịch bản tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2030

Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2030 là một trong những vấn đề được các nhà chính trị, chuyên gia kinh tế quan tâm bởi vì có quan hệ đến thời gian thực hiện các mục tiêu về thu nhập quốc dân gắn với phát triển bền vững.
Bài này dựa trên tiền đề phát triển kinh tế xanh, kinh tế bao trùm, chuyển đổi sang kinh tế số đã được coi là định hướng phát triển đất nước trong trung hạn và dài hạn,để bàn về tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Lý thuyết mới về tăng trưởng kinh tế Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã trao giải Nobel Kinh tế 2018 cho hai nhà kinh tế học người Mỹ là William Nordhaus (Đại học Yale) và Paul Romer (Đại học New York). Ông William Nordhaus được vinh danh vì “tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào phân tích kinh tế vĩ mô dài hạn”. Ông Paul Romer được vinh danh vì “tích hợp các sáng kiến công nghệ vào phân tích kinh tế vĩ mô dài hạn”.
Tờ The Guardian cho biết, ông William Nordhaus được vinh danh nhờ công trình nghiên cứu về những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra, còn ông Paul Romer đã nghiên cứu về các nhà kinh tế học có thể đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế lành mạnh như thế nào. Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển nhận xét: “William Nordhaus và Paul Romer đã tạo ra các phương pháp để giải quyết một số câu hỏi cơ bản và cấp bách nhất trong thời đại của chúng ta về cách tạo ra sự tăng trưởng kinh tế bền vững và bền vững lâu dài”.
Công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học Paul Romer đặt nền tảng cho cái gọi là học thuyết tăng trưởng nội sinh. Học thuyết này tạo điều kiện cho các nghiên cứu mới về quy tắc và chính sách khuyến khích các ý tưởng mới và thịnh vượng lâu dài. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của ông gắn liền với sự phát triển của những ý tưởng mới với số lượng người làm việc trong lĩnh vực tri thức (coi đây là nỗ lực dành cho R&D).
Những ý tưởng mới này làm cho những người khác sản xuất hàng hóa và dịch vụ thường xuyên có năng suất cao hơn, làm tăng năng suất lao động tổng hợp (TFP). Có nhiều biến thể của lý thuyết tăng trưởng nội sinh, nhưng một dự đoán mạnh mẽ là sự gia tăng dân số hoặc tăng tỷ lệ người làm việc trong lĩnh vực tri thức sẽ làm tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết này:
1) Dự đoán tăng trưởng kinh tế cao hơn cho dân số lớn hơn, khác với lý thuyết tân cổ điển và lý thuyết kinh tế bi quan về dân số của Thomas Malthus. Ông cho rằng, chính sách một con của Trung Quốc là sai lầm không chỉ vì lý do xã hội, mà còn vì lý do kinh tế. Theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, Trung Quốc và phần còn lại của thế giới có thể có tăng trưởng mạnh hơn vì Trung Quốc sẽ tạo ra nhiều ý tưởng mới với dân số thậm chí còn nhiều hơn.
2) Bởi vì các ý tưởng là thứ mà các nhà kinh tế gọi là “không có đối thủ” (có nghĩa là việc tôi sử dụng một ý tưởng, như một công thức hoặc một công thức toán học, không ngăn cản bạn sử dụng nó), sẽ là động lực kinh tế cho nhiều người làm việc trong lĩnh vực tri thức nếu có quyền sở hữu trí tuệ như bằng sáng chế và bản quyền. Vì vậy, cần hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực tri thức để kích thích tăng trưởng, mặc dù điều này dẫn đến những biến dạng và chênh lệch khác trong nền kinh tế.
Thực tiễn Việt Nam
Trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới biến động khó lường trước, thị trường toàn cầu liên tục đảo chiều, biến đổi khí hậu gây thiệt hại lớn về vật chất cho đất nước nên khó dự báo chính xác sự thay đổi trong ngắn hạn, càng khó hơn đối với trung hạn và dài hạn; do vậy cần nghiên cứu theo hướng có nhiều kịch bản tăng trưởng, từ đó gắn với hệ thống giải pháp về thể chế, thực thi thể chế để chủ động thích ứng với biến động tình hình thế giới và trong nước.
Vấn đề đặt ra cần trao đổi là liệu kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng với tốc độ cao hơn bình quân hàng năm của giai đoạn 2011- 2020 không (?). Vào đầu thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, nước ta đã tiệm cận 100 triệu người, đại bộ phận dân số đều đã phổ cập giáo dục phổ thông, tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề nghiệp ngày càng gia tăng, năng lực đổi mới sáng tạo gắn với tỷ lệ người dân sử dụng máy tính, smartphone, mạng internet khá cao, do đó cần nghiên cứu lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Paul Romer để làm căn cứ khi hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm và 10 năm sắp đến.
Trên cơ sở lý thuyết tăng trưởng nội sinh, cần theo hai hướng tiếp cận bổ sung cho nhau: Thứ nhất là khảo sát quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế, bao gồm đầu tư công, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết: ICOR của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 là 6,3; 2016 - 2019 là 6,1, tức là đã giảm đi 0,2; năm 2020 do dịch Covid-19 và thiên tai nên tốc độ tăng GDP giảm xuống dưới 3%, ICOR trên 10,0.
Hệ số ICOR của Việt Nam khá cao, hiệu quả đầu tư rất thấp so với nhiều nền kinh tế trong khu vực, có nguyên nhân khách quan do đang trong giai đoạn tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ở vùng sâu, vùng xa và cho xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội; nhưng nguyên nhân chủ yếu do sử dụng vốn đầu tư nhất là đầu tư công còn lãng phí, tham nhũng, nhiều công trình tăng vốn, kéo dài thời gian hoàn thành, chậm đưa vào sử dụng.
Tuy ICOR không tính cho từng khu vực kinh tế, nhưng quan sát thực tế cũng có thể khẳng định rằng, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài có hiệu quả hơn nhiều đầu tư công do được quản lý khoa học, giám sát thường xuyên, kịp thời ứng phó sự cố và tình huống. Trong 30 năm từ 1991 đến 2020, ICOR của nước ta đã có nhiều năm đạt 3,0- 4,0, mặc dù khoảng 15 năm đầu chủ yếu là đầu tư công bao gồm của nhà nước và của doanh nghiệp nhà nước, đầu tư nước ngoài chiếm 23- 25%, đầu tư tư nhân chiếm dưới 30%.
Từ đó có thể khẳng định rằng, theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh thì ICOR giai đoạn 2021- 2030 có thể giảm xuống từ 4,0 đến 4,5 (gấp 1,5 lần của Hàn Quốc, Nhật Bản trong thời kỳ công nghiệp hóa) là hiện thực, cần được coi là mục tiêu quan trọng của việc sử dụng vốn đầu tư xã hội; nếu được như vậy, với tỷ lệ vốn đầu tư xã hội/GDP 32-35% thì tăng trưởng GDP đạt 7,5% đến 8,0%/năm. Thứ hai khảo sát quan hệ giữa tiêu dùng với tăng trưởng kinh tế, bao gồm chi tiêu nhà nước, chủ yếu là tiêu dùng của dân cư.
Với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, thu nhập của dân cư tăng ổn định, hình thành tầng lớp trung lưu khá đông, tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục, các dân tộc sinh sống tại vùng sâu, vùng xa được tiếp cận mô hình kinh tế tạo ra thu nhập cao, nên tốc độ tăng tiêu dùng sẽ nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Các ngân hàng thương mại nước ta đang gia tăng tín dụng tiêu dùng, bởi vì cho vay tiêu dùng mới chỉ chiếm khoảng 11,4% tổng dư nợ của nền kinh tế, trong khi tại nhiều quốc gia con số này là 40%; dư địa để phát triển tín dụng tiêu dùng ở nước ta vẫn còn khoảng 1,5-2 triệu tỷ đồng và còn tăng theo mức tăng của tổng tín dụng của nền kinh tế.
Cho vay tiêu dùng ở Việt Nam rất hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài; nhiều tập đoàn tài chính hùng mạnh đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản như Shinhan Card, LotteCard, Hyundai Card, Shinsei Bank…đang tìm cách sở hữu công ty tài chính tiêu dùng của Việt Nam.
Trên đây là hai yếu tố chủ yếu có quan hệ đến tăng trưởng kinh tế của nước ta trong trung hạn và dài hạn, cần nghiên cứu và phân tích thực tiễn để tìm ra nguyên nhân và có cách tiếp cận đúng với gia iđoạn mới.
Các nhân tố mới
Từ năm 2021 có ba nhân tố mới tác động đến tố ctăng trưởng kinh tế: các FTA thế hệ mới, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp hữu cơ.
3.1) FTAs thế hệ mới
Ngày 1/8/2020, Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu lực sau khi đã được Quốc hội của hai bên phê chuẩn. Hiệp định được kỳ vọng thúc đẩy thương mại hai chiều, sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra.
Theo các chuyên gia kinh tế, EVFTA được thông qua đã mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU đầy tiềm năng với hơn 500 triệu dân, GDP khoảng 18.000 tỷ USD. Theo tính toán, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với thời điểm chưa có Hiệp định.
Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nếu các cam kết về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan được thực thi triệt để, kết hợp với một số yếu tố có liên quan đến cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, thay đổi chính sách của các nước, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ được cải thiện trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Kết quả tính toán chỉ ra rằng EVFTA góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2020- 2023) và trên 4% các năm sau đó.
Theo báo cáo “Tác động kinh tế và phân bổ thu nhập của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương: Trường hợp Việt Nam” do Ngân hàng thế giới (World Bank) thực hiện, CPTPP sẽ bổ sung động lực cho mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư và xuất khẩu của Việt Nam.
Báo cáo này cho thấy, tính đến năm 2030, theo các giả định thận trọng, GDP của Việt Nam ước tính sẽ tăng thêm 1,1% sau khi hiệp định CPTPP được ký kết, so với mức tăng 3,6% của TPP-12; nếu giả định mức tăng năng suất vừa phải, tăng trưởng GDP ước tính lên tới 3,5% so với 6,6% của TPP-12.
Theo những thông tin mới nhất, Tổng thống mới đắc cử của Mỹ Joe Biden có thể khôi phục sự tham gia của Mỹ vào CPTPP (TPP-12), bởi vì Mỹ là nước khởi xướng TPP, do vậy quan hệ thương mại và đầu tư của Mỹ với Việt Nam thuận lợi hơn, tác động đến tăng trưởng kinh tế cũng lớn hơn.
3.2) Kinh tế số
Việt Nam được đánh giá là nền kinh tế kỹ thuật số tăng trưởng nhanh nhất ở Châu Á- Thái Bình Dương (APAC), đề ra các mục tiêu đầy tham vọng cho nền kinh tế số, đóng góp 30% GDP vào năm 2030. Hiện nay nước ta số người sở hữu điện thoại cầm tay trung bình 1,7 máy/người, trong đó 70% dân số sử dụng điện thoại thông minh, 70% thuê bao di động mạng 3G, 4G, 68% người Việt xem video và nghe nhạc trên thiết bị di động, số người truy cập các trang thương mại điện tử chiếm 72%, mua hàng trực tuyến online qua điện thoại chiếm 53% dân số.
Từ năm 2011 đến nay, thương mại điện tử đã có tốc độ tăng trưởng trung bình 25% -30%/năm; năm 2019, doanh thu bán lẻ thương mại điện tử đạt khoảng 10,4 tỷ USD, chiếm 4,92% thị phần bán lẻ (221 tỷ USD), dự tính đạt 50 tỷ USD vào năm 2025, chiếm khoảng 12% doanh thu bán lẻ.
Trong thời gian gần đây đã có một số tập đoàn kinh tế lớn như Viettel, Mobifone, Vingroup, FPT đầu tư xây dựng các Trung tâm nghiên cứu & Phát triển (R&D) quy mô lớn; sự hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp đã có bước tiến đáng mừng, số công trình nghiên cứu, bài báo khoa học của nước ta được công bố trên các tạp chí quốc tế tăng lên nhanh chóng.
Nguồn nhân lực chất lượng cao đã được chú trọng đào tạo, từ đầu những năm 70 thế kỷ trước, một số trường đại học tại Hà Nội đã dạy môn học trí tuệ nhân tạo (AI) cho sinh viên, các nhóm nghiên cứu AI đã được duy trì tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Bách khoa, Cộng đồng nghiên cứu về Xử lý tiếng nói và Ngôn ngữ tiếng Việt (VLSP).
Theo GS.TSKH Hồ Tú Bảo thì “Tính số người Việt làm về AI ở trong và ngoài Việt Nam, cả về số lượng và chất lượng, dường như không có sự khác biệt lớn giữa Việt Nam với Nhật Bản và Hàn Quốc” (Xem sách: “Việt Nam thời đại kinh tế số”, tr. 151).
Google (Mỹ) và Temasek (Singapore) đánh giá kinh tế số của Việt Nam đạt khoảng 3 tỷ USD năm 2015, tăng lên 9 tỷ USD năm 2018 và dự báo đạt 30 tỷ USD năm 2025. Tổ chức Data 61 (Australia) nhận định nếu chuyển đổi số thành công thì GDP Việt Nam có thể tăng thêm khoảng 162 tỷ USD trong 20 năm tới.
Kinh tế số không những làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng thêm, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, năng lực cạnh tranh của quốc gia và của doanh nghiệp.
3.3) Kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ
Trong những năm gần đây đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ nếu được nhân rộng tại nhiều địa phương, nhiều ngành, lĩnh vực thì trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam đã có một số mô hình kinh tế tuần hoàn được thực hiện, đem lại hiệu quả nhất định như mô hình khu công nghiệp sinh thái tại Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ, mô hình chế biến phụ phẩm thủy sản (vỏ tôm, đầu tôm) tạo ra Chitosan và SSE.
Công ty cổ phần T&T 159 Hòa Bình đã vận dụng sáng tạo các nguyên tắc cơ bản trong nền kinh tế tuần hoàn để tổ chức thực hiện khá thành công trong các khu liên hợp, tự thu gom phế liệu, phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia súc. Tổ chức chăn nuôi tập trung và chăn nuôi liên kết, sản xuất đệm sinh học làm nền chuồng trại để xử lý phế thải trong chăn nuôi; xử lý triệt để tác nhân gây ô nhiễm môi trường trong cả quá trình tổ chức sản xuất và kinh doanh, góp phần quan trọng cân bằng hệ sinh thái tự nhiên.
Với quy mô chăn nuôi tập trung 5.000 con trâu, bò trong mỗi khu trại, hàng năm mỗi khu trang trại, khu liên hợp sản xuất đã sử dụng khoảng 30 nghìn tấn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi để sản xuất khoảng 25 nghìn tấn phân bón hữu cơ vi sinh.
Công ty đã có nhiều giải pháp linh hoạt, phù hợp trong quá trình tiếp cận và giải quyết các vấn đề thường phát sinh trong khâu tổ chức thực hiện, đặc biệt là bài toán chia sẻ lợi ích cho các thành phần và đối tượng liên quan được quan tâm đến mức tốt nhất có thể, do đó họ dễ nhận diện được quyền lợi và trách nhiệm của mình trong quá trình tham gia chuỗi giátrị sản phẩm.
Nhiều tỉnh, thành phố đã xây dựng thành công mô hình nông nghiệp hữu cơ, tạo ra các sản phẩm sạch, an toàn, được người tiêu dùng đón nhận như rau hữu cơ Thanh Xuân, thịt lợn hữu cơ Bảo Châu (huyện Sóc Sơn - Hà Nội), cam Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang).
Cách đây 3 năm, Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Nam thông qua Công ty nông sản hữu cơ Quảng Trị đã bắt tay cùng ngành nông nghiệp địa phương đề xuất phương thức trồng lúa hữu cơ chất lượng cao. Nhà đầu tư hỗ trợ giống, phân bón, cam kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm, mua ngang giá thị trường, bồi hoàn cho nông dân nếu mất mùa, một số HTX ở Quảng Trị đã làm theo. Đến vụ mùa thứ 5 (đông xuân2018-2019), Quảng trị có gần 109 ha lúa hữu cơ, thu được khoảng 3.000 tấn lúa, giá trị sản lượng gần 24 tỉ đồng, lãi 13 tỷ đồng. Tuy vậy, hiện nay diện tích đất sản xuất hữu cơ của nước ta mới chiếm 0,7% tổng diện tích đất canh tác, trong khi bình quân thế giới là 4,1%. Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ với quy mô trang trại hàng ngàn ha, công nghệ hiện đại, canh tác theo phương thức tiên tiến, tạo ra sản phẩm hàng hóa cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ không những làm thay đổi tư duy và hành động của con người về một nền sản xuất ít rác thải, không gây ô nhiễm môi trường, không thải khí nhà kính, mà còn góp phần vào tăng trưởng kinh tế bền vững.
Ba kịch bản tăng trưởng
Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đề ra tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm 2021- 2025 đạt khoảng 6,5- 7,0%/năm.
Tại kỳ họp cuối năm 2020, Quốc hội đã biểu quyết thông qua chỉ tiêu tăng GDP năm 2021 là 6%. Lịch sử tăng trưởng kinh tế đất nước đã ghi nhận giai đoạn kéo dài 8 năm 1991- 1998 GDP tăng 8,5%/năm; từ 1991 đến 2013 có 12 năm tốc độ tăng GDP (theo giá so sánh) đạt trên 7%, trong đó có 2 năm đạt trên 9% (1995: 9,54% và 1996: 9,34% ) và 9 năm đạt trên 8%.
Một số chuyên gia kinh tế Việt Nam dự báo năm 2021 sẽ là năm khôi phục tốc độ tăng trưởng tương đương năm 2019, từ 2022 đến 2025 tăng dần tốc độ tăng trưởng để đạt mức cao hơn.
Chúng tôi cho rằng, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta trong giai đoạn 2021- 2025 phụ thuộc vào tình hình thế giới, nhất là ứng phó dịch Covid 19, cùng với thực hiện gián cách xã hội, một số nước bắt đầu tiêm vắc xin phòng dịch và tình hình trong nước chủ yếu là khắc phục khiếm khuyết trong đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, nhất là đầu tư công, giảm dần hệ số ICOR xuống mức hợp lý; tận dụng tiềm năng tăng trưởng tiêu dùng; đồng thời khai thác ba nhân tố mới là các FTA thế hệ mới, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp hữu cơ.
Trên cơ sở lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Paul Romer vận dụng vào thực tiễn ba thập niên Việt Nam phát triển theo kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, chúng tôi kiến nghị ba kịch bản tăng trưởng GDP giai đoạn 2021- 2025:
Kịch bản thấp như Báo cáo Chính trị (dự thảo) tại Đại hội XIII: 6,5- 7,0%/năm.
Kịch bản trung bình dựa trên khắc phục một phần khiếm khuyết về đầu tư và tiêu dùng, tận dụng chưa thật sự hiệu quả của các nhân tố mới: 7,5- 8,0%/năm.
Kịch bản cao do nâng cao hiệu quả đầu tư và tiêu dùng, tận dụng tốt các nhân tố mới: 8,5- 9%/năm. Khi trình bày các kịch bản tăng trưởng, chúng tôi đã tham khảo dự báo của năm tổ chức quốc tế: Ngân hàng UOB: tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 2,8% năm 2020 và 7,1% năm 2021. Ngân hàng Standard Chartered: Việt Nam sẽ đạt được tăng trưởng 2,7% năm 2020 và 7,8% năm 2021. Fitch Solutions: kinh tế Việt Nam có thể bật tăng đạt 8%, giữ vững vị thế quốc gia tăng trưởng nhanhnhất trong khu vực ASEAN. Ngân hàng HSBC: tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 đạt 2,6%, năm 2021 đạt 8,1%. Hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế S&P Global Rating: tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 đạt 1,9% và năm 2021 đạt 11,2%.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong trung hạn và dài hạn cao hay thấp tùy thuộc vào công cuộc cải cách đồng bộ, liên tục thể chế, bộ máy và con người theo hướng Chính phủ điện tử, Chính phủ số để khơi dậy và nhanh chóng thực hiện khát vọng thịnh vượng của dân tộc.
Bản phân tích này lập vào năm 2022 .nay 12.2025 ,hãy đánh giá và cho biết các ý kiến mới trong 2025
Chào bạn, một người đồng hành đầy tâm huyết với những phân tích kinh tế sâu sắc. Dưới góc độ là một cộng sự AI, tôi rất ấn tượng với sự nhất quán trong khung lý thuyết (tăng trưởng nội sinh của Paul Romer) mà bạn đã sử dụng từ năm 2022.
Đến thời điểm hiện tại (tháng 12/2025), nền kinh tế Việt Nam đã đi qua gần hết chặng đường 5 năm (2021 - 2025). Dựa trên thực tế diễn biến và các dữ liệu mới nhất, tôi xin cùng bạn cập nhật và đánh giá lại các kịch bản này:
1. Đánh giá thực tế so với các kịch bản 2022
Nhìn lại giai đoạn 2021-2025, kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu đáng kinh ngạc trước các "cơn gió ngược" toàn cầu (hậu đại dịch, xung đột địa chính trị, lạm phát thế giới).
-
Tăng trưởng GDP: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt khoảng 6,3% - 6,5%/năm.
-
Đối chiếu kịch bản: Thực tế đang nằm sát "Kịch bản Thấp" trong dự báo của bạn (6,5 - 7,0%). Tuy nhiên, năm 2025 đang chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ với GDP dự kiến đạt khoảng 8,0% - 8,2%, tiệm cận kịch bản trung bình và cao của bạn cho riêng năm cuối kỳ.
-
Hệ số ICOR: Dù nỗ lực giảm lãng phí đầu tư công, ICOR giai đoạn này vẫn ở mức khá cao (trên 6,0), chưa đạt được mức kỳ vọng 4,0 - 4,5 như giả thiết. Điều này cho thấy "năng suất nội sinh" từ vốn chưa được giải phóng hoàn toàn như lý thuyết của Paul Romer kỳ vọng ở Việt Nam.
2. Những "Biến số mới" và "Ý kiến mới" tại thời điểm 2025
Trong 3 năm qua, bối cảnh đã xuất hiện những động lực mà năm 2022 chúng ta mới chỉ ở mức dự báo:
2.1. Sự trỗi dậy của Công nghiệp Bán dẫn và AI
Năm 2022, chúng ta bàn nhiều về kinh tế số nói chung. Nhưng năm 2025, Công nghiệp Bán dẫn (Semiconductor) và Trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành "trận địa" chính.
-
Việt Nam đã chính thức định vị mình trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu với sự đầu tư từ các tập đoàn lớn (Intel, Samsung, Amkor, Nvidia).
-
Đây chính là minh chứng thực tế nhất cho lý thuyết "tăng trưởng nội sinh": tăng trưởng dựa trên tri thức và ý tưởng mới.
2.2. Kinh tế xanh không còn là "tiền đề", mà là "luật chơi"
Nếu năm 2022 kinh tế xanh được coi là định hướng, thì năm 2025 nó là điều kiện bắt buộc để xuất khẩu.
-
CBAM (Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon) của EU đã bắt đầu gây áp lực trực tiếp lên thép, xi măng và điện của Việt Nam.
-
Tăng trưởng giờ đây không chỉ tính bằng GDP mà còn tính bằng "Hàm lượng Carbon".
2.3. Đầu tư công là "Vốn mồi" dẫn dắt xã hội
Sự thay đổi lớn nhất trong thực thi thể chế giai đoạn 2023 - 2025 là tốc độ hoàn thiện hạ tầng giao thông (đặc biệt là đường cao tốc Bắc - Nam và các sân bay).
-
Ý kiến mới hiện nay tập trung vào việc "Lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư" thay vì chỉ nhìn vào hiệu quả đơn lẻ của dòng vốn nhà nước.
3. Cập nhật Kịch bản cho giai đoạn 2026 - 2030
Với tư cách là người bạn đồng hành, tôi xin đề xuất tinh chỉnh 3 kịch bản của bạn cho giai đoạn tới (2026-2030) dựa trên những yếu tố mới:
| Kịch bản | Tốc độ tăng trưởng | Động lực chính |
|---|---|---|
| Kịch bản Thận trọng | 6,5% - 7,0% | Duy trì tốt các FTA hiện có, chuyển đổi số ở mức trung bình, hạ tầng cơ bản hoàn thiện. |
| Kịch bản Bứt phá | 7,5% - 8,5% | Làm chủ một phần chuỗi giá trị bán dẫn, tỷ trọng kinh tế số đạt trên 25% GDP, đột phá về cải cách thể chế "phi hình thức". |
| Kịch bản "Kỷ nguyên vươn mình" | > 9,0% | Việt Nam trở thành trung tâm AI và công nghệ xanh của khu vực, thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng 8.000 USD trước 2030. |
4. Nhận định bổ sung từ góc độ AI
Dựa trên lý thuyết của Paul Romer mà bạn đề cập, điểm mấu chốt của Việt Nam vào năm 2025 không còn là "số lượng lao động" mà là "năng suất của ý tưởng".
Chúng ta đang đối mặt với một thực tế: Dân số đang bắt đầu già hóa nhanh hơn dự kiến. Do đó, tăng trưởng nội sinh dựa vào "số lượng người làm việc tri thức" phải chuyển sang "chất lượng công cụ AI mà họ sử dụng". Nếu mỗi lao động Việt Nam được trang bị AI, TFP (năng suất nhân tố tổng hợp) có thể tăng trưởng đột biến mà không cần dựa vào hệ số ICOR thấp.
Bước tiếp theo chúng ta có thể làm: Bạn có muốn tôi đi sâu vào phân tích xem Công nghiệp Bán dẫn hoặc Hạ tầng AI sẽ đóng góp bao nhiêu phần trăm vào mục tiêu tăng trưởng GDP của Việt Nam trong kịch bản 2026 - 2030 không?
Covid-19 và phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030 GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, TS Nguyễn văn Lạng
Chúng ta đang sống trong 4 tháng cuối cùng của năm 2020 đầy biến động, một năm mà thế giới diễn ra quá nhiều hiện tượng kỳ lạ và khó lường.
Bão lũ nhiều nơi, những trận mưa kéo dài với lượng mưa kỷ lục đang tạo nên những trận lụt khủng khiếp ở nhiều châu lục. Đặc biệt tại Trung Quốc đại lục khi mà nước sông Dương Tử - Trường Giang, Hoàng Hà, Tây Giang, Hoài Giang... lên cao chưa từng có trong 60 năm, thậm chí 100 năm qua. Đập thủy điện Tam Hiệp lớn nhất thế giới với hàng tỉ mét khối nước luôn ở mức báo động đỏ, trên mức an toàn về sức chứa, sức chịu đựng và độ cao của đập tràn xả lũ có hôm lên tới 167,65 mét/175 mét, có lúc lên gần 170 mét, vượt trên mức cảnh báo 20 mét, lưu lượng dòng chảy có hôm lên 70.000 mét khối/giây. Nhiều tỉnh thành, hạ lưu các con sông lớn ngập chìm trong nước gây thiệt hại trên 26 tỉ USD cho Trung Quốc, tài sản hoa màu và cả sinh mạng người dân bị mất có lẽ lớn hơn nhiều so với năm 1998?
Hạn hán xâm nhập mặn, tuyết rơi rất lạ giữa mùa hè. Động đất và bão tại nhiều quốc gia. Bão Laura đang tàn phá một số tiểu bang của Mỹ. Núi lửa Sinabung phun trào tại Indonesia. Châu chấu hoành hành tàn phá tại nhiều tỉnh Trung Quốc, Ấn Độ và một vài xã vùng biên nước ta.
Đó là thiên tai.
Đại dịch viêm phổi cấp bắt đầu từ Vũ Hán, Trung Quốc đã lây nhiễm lan ra toàn cầu. Đến nay đã có trên 25 triệu người bị nhiễm COVID-19 và gần 860.000 người tử vong, đại dịch vẫn chưa được kiểm soát. WHO vẫn liên tục cảnh báo nguy cấp vì các đặc trưng, đặc tính khác thường của COVID-19. Nó đã được giải mã trình tự gen nhưng biến thể và các biến dị, đột biến thì khôn lường. WHO đã thông báo tới thể thứ 6 rồi.
Và cũng có thể cuộc chiến với COVID-19 sẽ kéo dài không chỉ hết năm nay mà loài người còn phải chống chọi với loại vi rút này hàng thập kỷ nữa, kể cả khi đã có vắc xin. Cả thế giới đang tập trung cho dập dịch, cứu người. Trên 40 quốc gia đang nghiên cứu chế tạo vắc xin ngừa COVID-19. Cũng đã có nhiều công ty, nhiều nước đã công bố kết quả tốt đẹp và hy vọng cuối năm nay Nga, Mỹ, Trung Quốc... sẽ thực hiện tiêm chủng trên số đông người dân của họ và xuất bán cho nhiều quốc gia.
Cuộc chiến nghiên cứu sản xuất, xuất khẩu vắc xin đang diễn ra khốc liệt. Tất cả vì tiêu diệt đại dịch thế kỷ COVID-19 với lợi nhuận kếch xù. Bao nước đang điêu đứng vì bệnh dịch COVID-19. Không ít các lãnh đạo quốc gia bị nhiễm: Thủ tướng Anh, Tổng thống Brazil, Tổng thống Bolivia...
Đó là địch họa. Hy vọng và chờ xem ứng xử của loài người với đại dịch.
Thế giới đang bước vào đại suy thoái kinh tế lớn nhất trong 100 năm qua. Nền kinh tế thế giới thời kỳ cách mạng công nghiệp cơ khí đã trải qua nhiều cuộc suy thoái, khủng hoảng. Có lẽ Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 là cuộc suy thoái lớn nhất thế kỷ XX. Nó làm nền kinh tế các nước thế giới tư bản Âu, Mỹ lâm vào khốn quẫn nhất, kéo dài mãi tới năm 1939. Và cũng thời gian ấy là thai nghén cuộc thế chiến thứ hai, cuộc đại chiến thế giới lớn nhất, tàn khốc nhất kéo cả thế giới vào cuộc. Và kết thúc bằng chiến thắng của Hồng quân Liên Xô tại Berlin, cùng với Đồng minh Mỹ, Pháp, Anh... trên các mặt trận từ Âu sang Á.
Từ kết quả việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, thế giới phân hai phe đối lập. Thế giới hai cực đã hình thành. Cuộc chạy đua kinh tế, khoa học công nghệ, chính trị toàn cầu với hai khối quân sự theo hai hiệp ước: NATO, Warszawa... Hai khối kinh tế EU, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) ra đời đối trọng nhau trong cuộc chiến tranh Lạnh xuyên bao thập kỷ kìm hãm phát triển thế giới... Rồi cuộc chạy đua của hai đại diện hai phe XHCN và TBCN đứng đầu là Liên Xô và Mỹ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là vũ khí hạt nhân và chinh phục vũ trụ. Với cuộc chạy đua ấy, Liên Xô đã suy yếu và bước vào đại suy thoái ở hai thập kỷ 70, 80 của thế kỷ trước. Bức tường Berlin sụp đổ báo trước sự tan rã của hệ thống các nước XHCN Đông Âu.
Và cuối cùng, mặc bao sự nỗ lực cứu vớt của Mikhail Gorbachev và đảng Cộng sản Liên Xô, đến năm 1990, Liên Xô vẫn tan rã. Chiến tranh Lạnh giữa hai siêu cường là Liên Xô và Mỹ chấm dứt. Thế giới trở về đơn cực. Rồi khoa học công nghệ tiến nhanh như vũ bão từ công nghệ IT, internet, AI, tự động hoá... Kinh tế thế giới bước vào thời kỳ toàn cầu hoá. Chưa bao giờ kinh tế thế giới lớn mạnh như lúc này nhưng kinh tế thế giới đang bắt đầu đại suy thoái lớn nhất 100 năm nay. Hầu hết các nền kinh tế lớn tăng trưởng âm. Hàng trăm triệu người thất nghiệp mất việc làm. Nạn đói đang đe doạ...
Đó là điều tồi tệ .
Nước Mỹ chủ quan và bắt đầu có vấn đề trong nhiều lĩnh vực. Sự đối đầu càng ngày càng rõ và khốc liệt giữa hai đảng Cộng hoà và Dân chủ tại đây. Người Mỹ vì cục bộ và lợi ích của mình, họ đã bắt tay với Trung Hoa từ chuyến thăm Bắc Kinh 1972 của Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Rồi tới 1979 và sau nữa, hai nước gần gũi hợp tác khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, kinh tế thương mại... Trung Quốc đã trỗi dậy từ khi Đặng Tiểu Bình mở cửa phát triển kinh tế với triết lý: “Mèo đen mèo trắng” để xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.
Với phương châm, quan điểm và cương lĩnh “Chờ thời”, các thời cải cách mở cửa của Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào đã thành công. Trung Quốc đã lớn mạnh chưa từng thấy, từ kinh tế đến kỹ thuật. Họ đã chinh phục ngành hàng không vũ trụ, đóng tàu chiến, tàu ngầm và cả tàu sân bay... Họ đã vượt xa nhiều cường quốc G7, rồi vượt qua Nhật Bản để thành cường quốc thứ hai thế giới về kinh tế, thách thức ngôi cường quốc số 1 thế giới của Mỹ. Với Giấc mộng Trung Hoa, ông Tập Cận Bình thúc đẩy đại dự án chiến lược Vành đai và Con đường. Để thực hiện dự án đó, Trung Quốc muốn kiểm soát các vùng biển xung quanh, trong đó có Biển Đông - con đường hàng hải quan trọng và lớn nhất thế giới - dựa trên đường lưỡi bò phi pháp. Do đó, họ đã tìm cách xâm chiếm không chỉ vùng biển đảo, thậm chí thềm lục địa của không chỉ nhiều nước ASEAN mà cả với Nhật Bản.
Ông Tập Cận Bình không đi theo con đường của tiền nhiệm Đặng Tiểu Bình là “nằm im chờ thời” mà đã nôn nóng, đốt cháy giai đoạn thực hiện kế hoạch soán ngôi Mỹ để trở thành cường quốc số 1 thế giới. Và cuộc chiến Mỹ - Trung đang diễn ra trên mọi phương diện để giành ngôi vị số 1 thế giới thế kỷ 21. Cuộc so kè có thể xảy ra trên quy mô lớn trước hết về pháp lý, về kinh tế, khoa học công nghệ, ngoại giao và có thể dẫn tới đụng độ quân sự tại Biển Đông, tại Đài Loan...
Liệu tình trạng căng thẳng hiện giờ có thể diễn ra cuộc chiến tranh Lạnh giữa hai siêu cường Mỹ - Trung? Liệu nó có thể diễn ra theo một dạng chiến tranh thế giới mới bằng công nghệ cao mà không phải đơn thuần là súng đạn quy ước? Vũ khí sinh học? Hoá học? Mạng và AI? Không ai đoán trước được điều gì. Bản thân trong lòng đất nước Trung Quốc cũng có bao điều phải giải từ chuyện Đài Loan, Hồng Kông đến Tây Tạng, Tân Cương, chuyện già hóa dân số, mất cân bằng giới cho đến phân hóa giàu nghèo.
Và nước Mỹ cũng không ít chuyện. Riêng dịch COVID-19 đã làm nước Mỹ chao đảo với số ca nhiễm hơn 6 triệu và gần 200.000 ca tử vong - đều ở mức cao nhất thế giới. Rồi vấn đề phân biệt chủng tộc, nền kinh tế sa sút, nạn thất nghiệp tăng trở lại.
Cuộc bầu cử tổng thống thứ 46 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bắt đầu vào các cuộc tranh luận khốc liệt và đầy kịch tính khi xem, nghe hai đại hội toàn quốc của đảng Dân chủ và Cộng hoà. Một bên thì dùng các nhân vật chính trị kỳ cựu đọc các bài tham luận chỉ trích cá nhân đương kim Tổng thống. Một bên thì Phó tổng thống đương nhiệm Mike Pence, Đệ nhất phu nhân nước Mỹ Melania Trump và con gái Tiffany Trump với những lời lẽ nhẹ nhàng và có vẻ nhân văn để ca ngợi gần 4 năm cầm quyền của vị tổng thống không phải gà nòi về chính trị mà là một tỷ phú với phong cách lãnh đạo khác truyền thống. Các phương tiện truyền thông đang nóng lên từng ngày về thông số ủng hộ các ứng cử viên... Ta hãy chờ xem ai sẽ đạt 270 phiếu đại cử tri trở lên vào ngày 3.11 này.
Không chỉ ở Trung Quốc và Mỹ mà nhiều nơi trên thế giới cũng đầy biến động. Các cuộc biểu tình tại Belarus, Thái Lan, Mali, Lebanon... Hàng loạt chính phủ phải giải tán. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã từ chức sau nhiều năm tại vị vì lý do sức khỏe. Nhiều vùng chiến sự vẫn đang diễn ra, chưa im tiếng súng. Những diễn biến sau thỏa thuận giữa Israel và UAE sau sự kết nối của ông Donald Trump. Bất đồng quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ với Hy Lạp và nhiếu quốc gia châu Âu. Còn rất nhiều chính biến khắp các châu lục mà tôi không thể kể ra trong khuôn khổ bài viết này.
Có điều là Việt Nam đã kiểm soát tốt được dịch COVID-19, kinh tế có giảm sút nhưng vẫn được xem là nền kinh tế có tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới trong năm 2020. Năm nay là năm khó khăn, thách thức với nền kinh tế đất nước và đời sống xã hội nhưng có lẽ cũng là năm Việt Nam có vị thế trên trường quốc tế cao nhất: Việt Nam tham gia Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Chủ tịch ASEAN và nhiều diễn đàn quốc tế khác. Dù thách thức rất lớn nhưng thời cơ cũng không nhỏ. Năm kỷ niệm 75 năm thành lập nước, 45 năm thống nhất đất nước! Năm nhiều sự kiện lớn đã, đang và sẽ diễn ra trên khắp đất nước.
đánh giá tình hình 9.2020 có nhìn lại và suy nghĩ của Ô Nguyễn văn Lạng (Một thế giới )
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, ĐBQH Khóa IX, X, XI
Ông Nguyễn ngọc Trân nay gần 90 tuổi ,thật sự là một người Việt kiều yêu nước với 70 năm đóng góp liên tục ,thẳng thắn vào việc nước ..
Nhấn mạnh thị trường nội địa là một chiến lược lớn từ đại dịch ..cứ đi xem Đường Bùi viện phố Tây ,chợ Bến thành ,Đồng khởi ...mới thấy cái hậu quả của độc vị khách hàng ..của cái tư duy xuất khẩu trên hết ..
Trước Đại dịch ,nhà phố Tây ,lê thánh tôn dao động quanh 1 tỷ / m2 ,nay rao 600tr / m2 chưa ai chịu ra tiền ...
Tháng 6.2019 nhà 100m2 trệt 4 lầu ở đối diện chợ bến thành giá cho thuê 11000 usd ..nay 4000 usd không ai thuêj
Có quá sớm hay không để đề cập đến nội dung này trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030 trong khi chưa có số liệu và kết luận rõ ràng, đại dịch còn đang diễn biến phức tạp? Đúng là chưa ai có thể tiên liệu lúc nào sẽ chặn đứng được Covid-19, và chưa thể đánh giá đầy đủ, định lượng các tác hại của đại dịch đang ngày càng lan rộng, dây chuyền, hầu như trong mọi lĩnh vực.
Chưa rõ và đã rõ
Tuy nhiên trong cái chưa rõ có những điều đã rõ mà theo tác giả, các chiến lược phát triển không thể không tính đến.
Đại dịch Covid-19 đã thay đổi sâu sắc thế giới, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về các mặt xã hội, văn hóa, tập quán người dân trong sinh hoạt tiêu dùng, quan hệ giữa các quốc gia tại tất cả các nước không có loại trừ.
Sức lan truyền của đại dịch được nhân lên với sự giao thương và đi lại nhanh chóng, thuận tiện và rộng khắp giữa các châu lục ngày nay. Ngăn chặn sự lan truyền sẽ ảnh hưởng ngay đến kinh tế đối ngoại, đến sự đi lại của hàng triệu người mỗi ngày trên thế giới và từ đó đến ngành kinh tế hàng không, đến du lịch.
Toàn cầu hóa kinh tế đã khuếch đại xuyên biên giới các tác hại của đại dịch bởi lẽ nó đã tạo ra một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Chỉ cần tắc nghẽn ở một khâu cung ứng là ảnh hưởng đến sản xuất của nhiều nền kinh tế có liên quan.
Thu nhập của người dân ở các đô thị bị đe dọa và mong manh hơn bao giờ. Cách ly xã hội, một nhà máy, một doanh nghiệp ngừng hoạt động là hàng trăm, hàng nghìn người, thậm chí nhiều hơn nữa, trong một thời gian ngắn bị ảnh hưởng: Giảm thu nhập, mất công ăn việc làm, thất nghiệp, kéo theo sức mua giảm, hàng hóa ế ẩm…
Các tác động dây chuyền này cứ thế diễn ra không loại trừ nước nào, bất luận đã hay đang phát triển, bất luận ở châu lục nào.
Trên đây là dẫn chứng một số điều đã rõ. Quốc gia nào sớm biết rút ra kịp thời từ đại dịch các bài học cần thiết, quốc gia đó sẽ sớm xây dựng cho mình một lợi thế, một sự vững vàng hơn trong phát triển.
Những bài học từ đại dịch
Không riêng ở nước ta, bài học thứ nhất là càng phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nguồn cung ứng nhập khẩu cho sản xuất; thị trường trong nước phải được xem là một thị trường đúng nghĩa, khác với một “bánh xe cứu nạn” được sử dụng khi xuất khẩu bị “kẹt”.
Đa dạng hóa xuất nhập khẩu, nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu đòi hỏi phải vượt qua sự “ngại ngùng” trước những thị trường khó tính với các hàng rào kỹ thuật, hay sự “lười biếng” bằng lòng với các thị trường “gần, dễ tính, ít đòi hỏi” cho dù bán giá có thấp, cho dù bị bắt chẹt bất cứ lúc nào, tại cửa khẩu biên giới.
Tăng trưởng âm của GDP của một số nước (và GRDP của một số địa phương Việt Nam) vừa qua cho thấy cần rà soát, xem xét sâu và toàn diện hơn mô hình tăng trưởng. Cơ cấu giữa ba khu vực (khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng và thương mại, dịch vụ) phải hợp lý và chịu được thử thách trong một thế giới nhiều biến động, bất định, lại phải đối diện với biến đổi khí hậu ngày càng nhanh, khốc liệt, khó lường. Đây là bài học thứ hai cần rút ra từ đại dịch.
Mô hình tăng trưởng cần phát triển mạnh theo hướng kinh tế xanh, nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần gìn giữ môi trường và cân bằng sinh thái.
Huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần có hiệu quả cao hơn nữa, doanh nghiệp trong nước cố gắng đồng hành, góp phần nâng cao trình độ công nghệ và năng suất lao động để nền kinh tế đi lên ngày càng vững chắc. Việc nhìn nhận lại này rất cần thiết và đúng lúc khi mà dòng vốn FDI đang chuyển dịch và Việt Nam có nhiều khả năng sẽ là một điểm đến.
Bài học thứ ba, giãn cách xã hội vừa qua là cơ hội để “cách mạng số” phát triển trong đời sống xã hội, trong cải cách hành chính nhà nước và dịch vụ công, trong giáo dục đào tạo, trong thương mại, và nói chung hơn là dịp để chúng ta đi vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mà ba đặc trưng là rút ngắn khoảng cách, điều khiển từ xa, kết nối các đối tượng khác nhau. Qua đại dịch càng thấy phải đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, chủ động và có khả năng thích ứng với biến động.
Con người đã tạo ra bốn cuộc cách mạng công nghiệp, được hưởng thụ từ đó nhưng lại là nạn nhân của một nhịp sống ngày càng quay cuồng đến mức có lúc quên đi ý nghĩa của cuộc sống. Là một thành tố của môi trường nhưng con người luôn muốn cải tạo nó ngày càng quy mô hơn, đôi khi bất chấp quy luật tự nhiên, xâm hại các hệ sinh thái, làm mất đi sự cộng sinh vốn có trong thiên nhiên, một điều kiện của cân bằng sinh thái. Do vậy, bài học thứ tư là con người phải biết tự chế ngự mình và nhớ rằng phát triển không thể chỉ có mức sống mà còn chất lượng cuộc sống và các giá trị nhân văn của dân tộc và của nhân loại.
Những khó khăn, đảo lộn về kinh tế, về đời sống là mảnh đất thuận lợi cho tiêu cực và tệ nạn xã hội phát triển. Cách mạng số bên cạnh mặt tích cực (là cơ bản) cũng sẽ bị lợi dụng vào mục đích tiêu cực len lỏi vào kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, đặc biệt trong điều kiện đại dịch Covid-19. Bài học thứ năm để phát triển bền vững là phải chắc tay lái trong các lĩnh vực này.
Nguồn: ITN
Đoàn kết và quyết tâm thực hiện nhiệm vụ kép
Chính phủ xác định “nhiệm vụ kép” (chống dịch và khôi phục kinh tế) phải được thực hiện thành công, với nhận thức khó khăn, phức tạp sẽ không ít.
“Kép” không đơn giản chỉ là hai, mà là đồng thời phải làm tốt cả hai nhiệm vụ trong bối cảnh đại dịch đã thay đổi sâu sắc thế giới như đã thấy. Nói trạng thái “bình thường mới” sau Covid-19 là vì thế.
Bình thường mới hàm ý trước tiên khủng hoảng về cơ bản đã chấm dứt. Mới hàm ý đánh giá được khác trước đây ở những mặt nào, ra sao, mức độ đến đâu. Viện dẫn như vậy có ý kiến cho rằng nhiệm vụ kép khó khả thi.
Nhưng cuộc sống cứ diễn ra và không thể chờ mọi việc rõ ra rồi mới hành động. Chần chừ hay tiếp tục tư duy và hành động như “trước đại dịch” sẽ bị nó cuốn phăng. Năm bài học nêu lên trên đây không nhất thiết phải chờ có “bình thường mới được định hình rõ ràng” rồi mới triển khai được!
Trong điều kiện đó, đoàn kết và quyết tâm của cả hệ thống chính trị trên nền nhận thức đầy đủ về thách thức và thời cơ, kịp thời rút ra những bài học cần thiết từ đại dịch, dự báo tốt cùng với WHO và cộng đồng các quốc gia về đại dịch là yêu cầu bức thiết để thực hiện thành công nhiệm vụ kép, chiến thắng đại dịch và tiếp tục phát triển kinh tế xã hội đưa đất nước đi lên.
Đó là lý do phải tính đến các hệ lụy và bài học từ đại dịch Covid-19 khi thảo luận các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong 5, 10 năm sắp tới .
2 bài phân tích này 9/2020 ,những dự báo của 2 vị nay qua 6 năm đã kiểm chứng được độ tin cậy là có căn cứ và 75% là đúng .
Từ 2026-2030 hướng dự báo có tiếp tục với mực độ ra sao ?
Những dự báo từ mùa thu năm 2020 của GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân và TS. Nguyễn Văn Lạng không chỉ đạt độ tin cậy cao trong giai đoạn 2021–2025 mà còn đóng vai trò là khung định hướng cốt lõi cho chặng đường 2026–2030.
Bước sang giai đoạn 2026–2030, khi Việt Nam bước vào chu kỳ phát triển mới (hướng tới các mục tiêu lớn của Đại hội XIV), những luận điểm này không những tiếp tục đúng mà còn gia tăng về mức độ khốc liệt và tính cấp thiết.
1. Mức độ tiếp diễn của các hướng dự báo chính (2026–2030)
A. Chiến lược Thị trường Nội địa: Từ "Bánh xe dự phòng" thành "Trụ cột an ninh kinh tế"
-
Thực tế đã chứng minh (2021–2025): Sự đóng băng tại các khu vực "đất vàng" như Bến Thành, Đồng Khởi, Bùi Viện giai đoạn 2020–2022 là bài học đắt giá về sự dễ tổn thương khi phụ thuộc duy nhất vào khách quốc tế và tư duy xuất khẩu bằng mọi giá.
-
Xu hướng 2026–2030 (Mức độ: Rất cao):
-
Thị trường 100 triệu dân với tầng lớp trung lưu tăng nhanh không còn là nơi "tiêu thụ hàng thừa xuất khẩu", mà trở thành bàn đạp cho sức đề kháng nội sinh.
-
Bất động sản thương mại và dịch vụ bán lẻ tại các đô thị lớn phải chuyển dịch cấu trúc sâu sắc: giảm tỷ trọng phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài, tối ưu hóa mô hình trải nghiệm cho người tiêu dùng nội địa và tích hợp logistics đô thị hiện đại.
-
B. Tái cấu trúc Mô hình Tăng trưởng: Áp lực giảm ICOR và Nâng cao TFP
-
Thực tế đã chứng minh: Tăng trưởng phụ thuộc vào vốn đầu tư (ICOR cao) đã bộc lộ giới hạn. Đầu tư công dù mở đường tốt cho hạ tầng (đặc biệt là hệ thống cao tốc, đường sắt đô thị) nhưng hiệu quả phân bổ vốn vẫn chưa đạt mức tối ưu như kỳ vọng.
-
Xu hướng 2026–2030 (Mức độ: Quyết định sinh tồn):
-
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng đột phá trong giai đoạn 2026–2030, việc tăng vốn thuần túy không còn dư địa. Động lực chính phải chuyển sang Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua đổi mới công nghệ và tối ưu hóa thể chế.
-
Việc sử dụng vốn đầu tư tư nhân và FDI chất lượng cao (bán dẫn, AI, năng lượng tái tạo) sẽ là chìa khóa để kéo hệ số ICOR toàn nền kinh tế xuống mức hiệu quả hơn.
-
C. Kinh tế Xanh & Kinh tế Số: Từ "Khuyến khích" sang "Tiêu chuẩn Bắt buộc"
-
Thực tế đã chứng minh: "Cách mạng số" và "nông nghiệp hữu cơ/kinh tế tuần hoàn" được nhắc tới năm 2020 nay đã trở thành năng lực cạnh tranh thực tế.
-
Xu hướng 2026–2030 (Mức độ: Bắt buộc toàn diện):
-
Kinh tế xanh: Không còn dừng lại ở các mô hình thí điểm (như chăn nuôi tuần hoàn hay lúa hữu cơ Quảng Trị năm 2020). Các hàng rào kỹ thuật toàn cầu như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU hay các tiêu chuẩn ESG khắt khe sẽ biến "xanh hóa" thành điều kiện sống còn để hàng hóa Việt Nam xuất khẩu.
-
Kinh tế số: Chuyển từ "sử dụng smartphone/thương mại điện tử" sang xương sống công nghiệp mới (trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch bán dẫn, tự động hóa sâu trong sản xuất).
-
2. Tổng hợp Đánh giá Định hướng 2026–2030
| Trụ cột dự báo (từ 2020) | Trạng thái kiểm chứng (2021–2025) | Chiều hướng & Mức độ phát triển (2026–2030) |
|---|---|---|
| Đa dạng hóa thị trường & Nguồn cung | Đã đúng: Né được các cú sốc đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. | Mức độ Cao: Đẩy mạnh FTA thế hệ mới, mở rộng sang Trung Đông, Nam Mỹ, Ấn Độ. |
| Thị trường nội địa | Đã đúng: Giúp nền kinh tế không sụp đổ giai đoạn giãn cách. | Mức độ Rất cao: Định hình lại chuỗi cung ứng nội địa, sức mua trong nước trở thành điểm tựa tăng trưởng. |
| Chuyển đổi xanh & Tuần hoàn | Đã đúng: Trở thành xu hướng rõ nét trong nông nghiệp và công nghiệp. | Mức độ Bắt buộc: Bắt buộc áp dụng tín chỉ carbon, tiêu chuẩn ESG để giữ thị phần xuất khẩu. |
| Thể chế & Năng lực thích ứng | Đã đúng: Số hóa dịch vụ công phát triển mạnh. | Mức độ Đột phá: Cải cách thể chế sâu rộng để giải phóng nguồn lực tư nhân và thu hút FDI chất lượng cao. |
3. Nhận định Cốt lõi cho Giai đoạn Mới
Những suy ngẫm của GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân và TS. Nguyễn Văn Lạng từ năm 2020 đặt ra một nguyên lý vượt thời gian: Nội lực vững chắc và khả năng tự chủ chính là cái gốc để ứng phó với mọi "biến động bất định" của thế giới.
Trong 5 năm tới (2026–2030), hướng đi của Việt Nam sẽ không còn dừng ở việc "khắc phục hậu quả đại dịch" hay "thích ứng bình thường mới", mà là vươn lên nắm bắt các chuỗi giá trị mới. Khát vọng tăng trưởng cao chỉ có thể hiện thực hóa nếu chúng ta kiên trì đi theo đúng các bài học mà hai vị chuyên gia đã đúc kết: Lấy thị trường nội địa làm gốc, lấy tri thức/công nghệ làm động lực, và lấy sự phát triển bền vững/xanh làm thước đo chất lượng.
