Điện, năng lượng tái tạo, lưới điện thế giới đến năm 2050 và khả năng chi trả của người tiêu dùng

22 Trần Quốc Toản, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp.HCM
Tiêu điểm
VH & TG: Trung Quốc tiến hành 'cuộc chiến' dài hạn với Mỹ, định hình lại trật tự tài chính toàn cầu Tiền Tệ : Lãi suất mới: Thực tế và dự báo Tin tức: 6 đề xuất đột phá chiến lược của Tập đoàn Vingroup VH & TG: Hòa Bình Potemkin: Nguy Hiểm Giả Tạo Tin tức: Bất động sản, vốn, tiền tệ: Liên kết hiện tại Tin tức: Bất Động Sản Việt Nam: Khác Trung Quốc CN & MT: Điều Hòa: Lối Thoát Hay Bẫy Nhiệt Tiền Tệ : NHNN nói lý do miễn 'room tín dụng' cho 18 dự án Vingroup, Sun Group, Masterise CN & MT: WHO: Đợt nắng nóng ở châu Âu mới chỉ là 'cuộc diễn tập' cho tương lai Tin tức: Mô hình đổi mới kinh tế Việt Nam Tin tức: Vingroup : Quy hoạch ngược từ tương lai BĐS: Thị trường bất động sản 6 tháng cuối năm: “Cửa sổ” cơ hội nay “nước mắt” thanh khoản? Tin tức: Từ thương cảng Sài Gòn đến siêu cảng Cần Giờ CN & MT: El Nino có thể mạnh nhất trong 70 năm, nhiệt độ Thái Bình Dương tăng vọt Tiền Tệ : Tín dụng, Lãi suất 2026: Thận trọng Tin tức: suy nghĩ từ Dragon Capital: Kiến nghị phát triển kinh tế 7.2026 Tiền Tệ : Quy luật 40% và bong bóng tài chính 2026- 2028 CN & MT: Biến đổi khí hậu 2026 Chìa khóa, quán tính và tương lai VH & TG: Tại sao xung đột cảm thấy liên tục bây giờ VH & TG: Chúng ta có thể đang bước vào thời đại trục thứ hai CN & MT: Pháp phá vỡ hơn 100 kỷ lục nhiệt độ cao nhất mọi thời đại CN & MT: CEO GOOGLE: BONG BÓNG AI CÓ THỂ VỠ, KHÔNG NÊN MÙ QUÁNG TIN TƯỞNG AI BĐS: Bong bóng bất động sản - Phần 2: Khi giá nhà vượt xa thu nhập BĐS: Bong bóng bất động sản - Phần 1: Nghịch lý thiếu vốn của nền kinh tế Tin tức: Tương Lai Lõi Trung Tâm TP.HCM 2030 CN & MT: Đảo nhiệt đô thị gia tăng áp lực nắng nóng ở TP Hồ Chí Minh CN & MT: Lịch Sử Phát Triển Văn Minh 1000-1200 CN & MT: Ấn Độ chuẩn bị kịch bản ứng phó El Niño mạnh đe dọa mùa gió mùa khô hạn BĐS: Một phân khúc BĐS từng rất phổ biến đã biến mất khỏi thị trường, chuyên gia chỉ ra xu hướng mới CN & MT: Phục hồi rừng: Thành tựu và thách thức SK & Đời Sống: TP.HCM phác họa tầm nhìn 100 năm: Siêu đô thị đa trung tâm, kết nối biển, dẫn dắt tăng trưởng khu vực SK & Đời Sống: Đô thị hữu cơ - Một logic khác cho đô thị mới SK & Đời Sống: Sài Gòn trong tư liệu cổ: Một đô thị sinh ra để hướng biển Thư Giản: 300 Năm Phát Triển Và Cái Giá Thư Giản: Tương lai 2026-2035: Kịch bản BĐS: Nhóm DN bất động sản chìm trong thua lỗ, 'trắng' doanh thu quý I : Trật tự thế giới trước nghịch lý lớn của thời đại Chứng khoán: Đầu tư nội địa giữa bất ổn toàn cầu : Nếu không sửa luật, dự án bất động sản sẽ tắc trong 10 năm tới VH & TG: Chương trình 3 triệu căn nhà: Indonesia và bài toán an cư cho người thu nhập thấp Tiền Tệ : Tín dụng xanh, rủi ro ESG Việt Nam VH & TG: NHẬT BẢN ĐỐT 73 TỶ USD CỨU ĐỒNG YÊN - HAY ĐANG GIĂNG BẪY TÀI CHÍNH CẢ THẾ GIỚI? SK & Đời Sống: Trật tự vỉa hè và linh hồn của đường phố SK & Đời Sống: Đi tìm sức sống đô thị VH & TG: Phỏng vấn Maud Quessard: “Trump đang hoàn thành quá trình Giải Tây Phương hóa (désoccidentalisation) thế giới mà Putine và Tập mong muốn” SK & Đời Sống: Khủng hoảng nhà ở và tương lai trẻ SK & Đời Sống: Hơn nửa lao động toàn cầu đang chán việc CN & MT: Phi hành đoàn Mặt Trăng vượt qua quả cầu lửa 3.000 độ C Thư Giản: Đại Biến Động Thế Kỷ 21: Vận 9 Thư Giản: Con người trần gian và hành trình vũ trụ Thư Giản: [2020s: Một thập kỷ rung động] Thư Giản: Abhigya Anand và dự báo 2026 Thư Giản: Dự đoán Điểm kỳ dị các vị trí q3 Thư Giản: Gemini đã dự cảm khá rỏ dưới lăng kính của mac ngôn thé giới từ 2050. Nhưng từ 2010 ở... CN & MT: Tương lai Đại dương và Hồi phục Sinh thái BĐS: 3 “ông lớn” chia thị phần bất động sản TP.HCM năm Bính Ngọ: Vinhomes làm siêu dự án ngoại ô, Masterise tiếp tục giữ trung tâm, Sun Group đánh thức vùng ven sông BĐS: Mặt bằng trung tâm TP.HCM: Thực trạng và dự báo VH & TG: Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ: Răn đe Trung Quốc Chứng khoán: 150 nhà đầu tư toàn cầu đến Việt Nam tìm cơ hội "giải ngân" VH & TG: Nhật Bản cân nhắc vũ khí hạt nhân Chứng khoán: PHẦN 3: THỊ TRƯỜNG THĂNG HOA XUẤT TƯỚNG NHỮNG 'ANH HÙNG' Chứng khoán: VN-Index mất gần 30 điểm Chứng khoán: Mía đường Cao Bằng (CBS) chốt quyền trả cổ tức bằng tiền tỷ lệ 30% Chứng khoán: CHỨNG KHOÁN QUÝ 4.2025 Kì 2 BĐS: Không đánh đổi giá nhà lấy tăng trưởng viển vông! BĐS: Thực trạng phân khúc nhà liền thổ tại TPHCM BĐS: 5 lưu ý khi đầu tư LƯỚT SÓNG bất động sản BĐS: Đất ở ổn định 20 năm, không có khiếu kiện, tranh chấp có được cấp sổ đỏ hay không BĐS: Hơn 32.000 căn nhà ở xã hội gần TP.HCM trong kế hoạch xây dựng năm 2025 của Long An
Bài viết
Điện, năng lượng tái tạo, lưới điện thế giới đến năm 2050 và khả năng chi trả của người tiêu dùng

    Trong 25 năm tới, nhu cầu tiêu thụ điện toàn cầu sẽ tăng gần gấp đôi, từ 20% tổng năng lượng tiêu thụ cuối cùng trong năm 2022 lên 37% vào năm 2050. Theo dự báo, hệ thống năng lượng mới - nơi mà phần lớn điện năng được sản xuất từ năng lượng gió, mặt trời dự kiến sẽ trở thành hiện thực ở hầu hết các quốc gia trong ba thập kỷ tới.

    Tiêu thụ điện thay đổi nhanh chóng - Tăng trưởng và xanh hóa:

    Điện, năng lượng tái tạo và lưới điện trên toàn cầu - Dự báo đến năm 2050

    Hình 1: Tiêu thụ điện hàng năm trên thế giới theo lĩnh vực. Nguồn: IEA (2023), GlobalData (2023).

    Vào năm 2023, tỷ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng gió, mặt trời là 13%, dự kiến sẽ tăng lên 50% vào năm 2040 và 70% vào năm 2050. Đến năm 2050, 82% tổng điện năng sẽ từ nguồn tái tạo như thủy điện, địa nhiệt, sinh khối, năng lượng gió, mặt trời. Năng lượng hạt nhân chỉ chiếm 6% sản lượng điện, giảm từ 9% hiện tại, mặc dù công suất đặt tăng 41% so với hiện nay. Điều này cho thấy sự thay đổi lớn trong cơ cấu nguồn điện. Khi đó, chỉ 12% điện năng sẽ đến từ nguồn hóa thạch (than, khí và dầu), tạo ra sự đảo ngược đáng kể so với hiện tại, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng mục tiêu phát thải ròng bằng không.

    Những thay đổi trong cơ cấu nguồn điện sẽ diễn ra khác nhau ở từng khu vực trên thế giới. Đến năm 2050, tất cả các khu vực đều vượt mốc 50% về tỷ trọng năng lượng gió, mặt trời trong cơ cấu nguồn điện, chỉ có khu vực Đông Bắc Á là vẫn phụ thuộc nhiều vào sản xuất điện từ hóa thạch.

    Bảng 1: Tỷ lệ điện gió (ĐG) và điện mặt trời (ĐMT) trong cơ cấu điện của khu vực và toàn cầu:

    Điện, năng lượng tái tạo và lưới điện trên toàn cầu - Dự báo đến năm 2050

    Điện, năng lượng tái tạo và lưới điện trên toàn cầu - Dự báo đến năm 2050

    Hình 2: Tăng trưởng và xanh hóa hệ thống điện của ba thị trường điện lớn nhất khu vực: Trung Quốc, Bắc Mỹ và châu Âu.

    Sự tăng trưởng và giảm phát thải cacbon của ngành điện chủ yếu được thúc đẩy bởi chính sách và sự giảm giá liên tục của điện gió, mặt trời. Dự kiến, chi phí sản xuất điện quy dẫn (Levelized Cost of Energy - LCOE) cho điện mặt trời sẽ giảm một nửa (còn khoảng 21 USD/MWh vào năm 2050), khiến nó trở thành nguồn điện rẻ nhất.

    Chi phí LCOE cho điện gió cũng sẽ giảm 44% (trên bờ), 36% (ngoài khơi - móng cố định) và 75% (ngoài khơi - móng nổi) vào năm 2050.

    Các loại nhu cầu mới:

    Nhu cầu điện toàn cầu dự kiến sẽ tăng từ 33 PWh (nghìn tỷ kWh) lên 68 PWh vào năm 2050, chủ yếu do nhu cầu ngày càng tăng đối với các ứng dụng hiện có, cũng như các loại phụ tải mới. Sự điện khí hóa giao thông, với 75% số lượng xe toàn cầu sẽ là xe điện, sẽ tăng thêm 7 PWh nhu cầu tiêu thụ mới. Các thiết bị điện phân kết nối với lưới sẽ tiêu thụ 3,4 PWh/năm để cung cấp hydrogen xanh.

    Ngoài ra, nhu cầu làm mát do khí hậu ấm lên sẽ khiến lượng tiêu thụ tăng thêm 7,5 PWh/năm vào giữa thế kỷ.

    Điện, năng lượng tái tạo và lưới điện trên toàn cầu - Dự báo đến năm 2050

    Hình 3: Sản lượng hydro thế giới theo công nghệ sản xuất.

    Khi các hộ gia đình trên toàn thế giới được điện khí hóa, tỷ lệ điện năng trong cơ cấu năng lượng của các tòa nhà sẽ tăng từ 34% vào năm 2022 lên 52% vào năm 2050. Sản lượng điện sử dụng trong sản xuất sẽ gần gấp đôi, với sự tăng trưởng mạnh trong thị trường bơm nhiệt công nghiệp. Tỷ lệ lò điện hồ quang trong sản xuất thép cũng sẽ tăng từ 26% hiện tại lên 49% vào năm 2050.

    Các mô hình phụ tải mới:

    Việc cho phép phụ tải thay đổi theo khả năng phát của nguồn điện tái tạo biến đổi sẽ trở thành yếu tố quan trọng trong hệ thống điện tương lai. Điều này sẽ đảo ngược mô hình truyền thống, trong đó nguồn điện luôn phải đồng bộ với phụ tải.

    Khi xem xét các giới hạn của một lưới điện nhất định, phụ tải có thể được điều chỉnh để hấp thụ những đỉnh cao, hoặc thấp của nguồn điện năng lượng tái tạo không có lưu trữ, thay thế cho các giải pháp lưu trữ tốn kém. Tiềm năng của việc điều chỉnh phụ tải là rất lớn, nhưng cần đảm bảo lợi ích tài chính cho người tiêu dùng, điều này chưa rõ ràng trong hệ thống điện hiện tại. Việc tự động điều chỉnh phụ tải qua công tơ thông minh và các biểu giá điện tiên tiến là điều kiện cần thiết để đạt hiệu quả cho cả người tiêu dùng dân cư và công nghiệp.

    Điều chỉnh phụ tải có thể tạo ra những mô hình hành vi đồng bộ mới, cùng với xe điện (EVs) và điện khí hóa các hộ tiêu thụ nhiệt, sẽ làm cho phụ tải trở nên liên quan hơn. Điều này cũng đặt ra những thách thức cho các nhà cung cấp điện để dự đoán chính xác mức sản lượng điện cần thiết. Việc áp dụng rộng rãi công tơ thông minh và các thiết bị giám sát khác sẽ cung cấp nhiều dữ liệu hơn cho các mô hình dựa trên dữ liệu ngày càng tinh vi để đáp ứng với các mô hình phụ tải thay đổi.

    Thị trường mới cho dịch vụ linh hoạt và lưu trữ điện:

    Khi tỷ lệ năng lượng tái tạo biến đổi tăng lên trong cơ cấu năng lượng, một thị trường lớn cho tính linh hoạt của cả nguồn điện và phụ tải sẽ xuất hiện. Dự báo cho thấy, với sự tăng trưởng gấp 8 lần của các nguồn năng lượng tái tạo, nhu cầu toàn cầu về tính linh hoạt ngắn hạn sẽ gần như tăng gấp đôi. Các thị trường này sẽ khác nhau giữa các khu vực, phụ thuộc vào tỷ lệ năng lượng tái tạo và khả năng kết nối giữa các quốc gia. Pin lithium-ion được dự đoán sẽ là nguồn cung chính cho tính linh hoạt trên toàn cầu, với công suất tăng từ 1,2 TWh vào năm 2030 lên 27 TWh vào năm 2050, có thể tích hợp với năng lượng tái tạo, hoặc hoạt động như các hệ thống độc lập.

    Điện, năng lượng tái tạo, lưới điện thế giới đến năm 2050 và khả năng chi trả của người tiêu dùng

    Hình 4: Thị trường tính linh hoạt toàn cầu cung cấp bởi các công nghệ khác nhau, biểu diễn dưới dạng tỷ lệ phần trăm theo nhu cầu trung bình hàng năm.

    Xe điện sẽ đóng vai trò ngày càng nổi bật trong thị trường linh hoạt, với dự báo rằng: 10% xe (khoảng 15 TWh) sẽ sẵn sàng hỗ trợ lưới điện vào năm 2050, nhờ vào công tơ thông minh và công nghệ kết nối xe vào lưới (Vehicle to Grid - V2G).

    Đến năm 2030, chi phí đầu tư cho các hệ thống pin lithium-ion quy mô dân dụng dự kiến sẽ giảm xuống dưới 200 USD/kWh và khoảng 140 USD/kWh vào năm 2050. Khi chi phí giảm, thời gian lưu trữ trung bình của hệ thống pin lithium-ion sẽ tăng lên. Tuy nhiên, nhu cầu về lưu trữ dài hơn (lên đến 24 giờ) sẽ có khả năng được đáp ứng bởi các loại pin hóa học khác nhau, trong đó có pin lưu trữ vanadi thể hiện triển vọng kinh tế công nghệ rất hứa hẹn. Thủy điện tích năng sẽ vẫn quan trọng trong lưu trữ dài hạn, nhưng bị hạn chế bởi các yếu tố địa lý.

    Ngoài ra, sản xuất hydrogen xanh từ điện năng lượng tái tạo dư thừa sẽ cung cấp thêm linh hoạt cho lưới điện trong tương lai.

    Mở rộng lưới điện:

    “Không có sự chuyển đổi nào mà không có truyền tải” là câu nói được nhắc lại nhiều lần tại COP28 ở UAE. Dự báo rằng, tổng chiều dài lưới điện truyền tải và phân phối sẽ tăng gấp đôi, từ 100 triệu km vào năm 2022 lên 200 triệu km vào năm 2050, cùng với việc công suất lưới điện toàn cầu tăng gấp 2,5 lần. Đặc biệt, lưới điện ngoài khơi sẽ phát triển mạnh mẽ, tăng khoảng 14 lần từ 0,2 triệu km lên 2,6 triệu km.

    Một chương trình xây dựng lớn sắp tới đã được phê duyệt trong nhiều gói chính sách ở Mỹ, Trung Quốc, châu Âu, Nhật Bản và nhiều nơi khác. Sự quan trọng của việc kết nối giữa các khu vực qua đường dây HVDC ngày càng được công nhận, không chỉ tăng cường an ninh, tính linh hoạt năng lượng, mà còn giúp giảm đầu tư vào sản xuất, lưu trữ và cơ sở hạ tầng tại từng quốc gia.

    Trong ngắn hạn, quá trình chuyển đổi năng lượng phải đối mặt với thách thức “tắc nghẽn lưới” khi nhiều dự án năng lượng tái tạo và trung tâm phụ tải lớn đấu nối với lưới điện, dẫn đến tình trạng vượt quá công suất truyền tải hiện có. Cần có một sự tập trung lớn vào việc xây dựng lưới điện mới ở hầu hết mọi quốc gia. Tuy nhiên, các công nghệ tăng cường lưới (Grid Enhancing Technologies - GETs) sẽ có tiềm năng rất lớn để giải quyết các tắc nghẽn này bằng cách tận dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng lưới hiện tại thêm từ 10% đến 50% công suất - tạo thêm thời gian để xây dựng các chương trình hệ thống điện lớn.

    Điện, năng lượng tái tạo và lưới điện trên toàn cầu - Dự báo đến năm 2050

    Hình 5: Khối lượng đường dây truyền tải và phân phối theo khu vực.

    Số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI):

    Các hệ thống điện hiện tại là những mạng lưới vật lý - ảo phức tạp, với hàng triệu thiết bị hoạt động đồng bộ. Tuy nhiên, các hệ thống mới sẽ còn phức tạp hơn do sự gia tăng năng lượng tái tạo biến đổi, lưu trữ và điều chỉnh phụ tải. Nhiều chuyên gia cho rằng, đầu tư vào công nghệ thông tin (IT) và công nghệ vận hành (OT), như điện tử công suất, cảm biến và công tơ thông minh, sẽ tăng lên trong những năm tới.

    Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum - WEF) ước tính rằng: Công nghệ số có thể tiết kiệm 1,8 nghìn tỷ USD chi phí đầu tư vào lưới điện toàn cầu đến năm 2050, trong khi việc không nâng cấp và số hóa cơ sở hạ tầng mạng sẽ mang lại tổn thất kinh tế lên đến 1,3 nghìn tỷ USD.

    Từ góc độ an ninh, nguy cơ tấn công mạng đối với sản xuất điện, lưới điện và phụ tải điều khiển số đang gia tăng. Nhiều quy định mới về an ninh mạng đã được ban hành và dự kiến sẽ thắt chặt hơn nữa. Bên cạnh an ninh mạng, báo cáo khuyến nghị một chiến lược số hóa cho các hệ thống điện mới, tập trung vào các yếu tố cốt lõi của hệ thống kỹ thuật số phức tạp. Điều này bao gồm, nhưng không giới hạn ở việc tuân thủ các tiêu chuẩn và từ kinh nghiệm thực tiễn làm việc liên quan đến quản lý chất lượng dữ liệu, thu thập, truyền tải dữ liệu đáng tin cậy trong các hệ thống cảm biến, mô hình mô phỏng, bản sao kỹ thuật số, khung mô hình thông tin tài sản và cuối cùng là đảm bảo các hệ thống học máy, hỗ trợ AI.

    Theo báo cáo, tác động của AI trong các hệ thống điện mới hiện đang bị đánh giá quá cao trong ngắn hạn và quá thấp trong dài hạn. Chúng ta còn rất xa để có thể giao phó việc quản lý điện năng của các nguồn điện biến đổi và của phụ tải bất định cho các AI “hộp đen” do còn tồn tại vấn đề về khả năng giải thích và “ảo giác AI”. Tuy nhiên, AI đã và đang tạo ra ảnh hưởng tích cực trên toàn bộ chuỗi giá trị của hệ thống điện, góp phần vào quá trình khử cacbon.

    Một số ứng dụng quan trọng của AI bao gồm tối ưu hóa sản xuất điện tái tạo, bảo trì lưới điện, dự đoán mất điện, đánh giá dòng điện động và quản lý điều chỉnh phụ tải. Trong trung hạn, AI sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc dự báo phụ tải chính xác hơn, giúp các đơn vị vận hành lưới điện phản ứng hiệu quả trước sự phức tạp ngày càng tăng của các mô hình phụ tải, lưu trữ và nguồn năng lượng tái tạo tự dùng.

    Khả năng chi trả:

    Theo dự báo, đầu tư vào lưới điện toàn cầu sẽ tăng gấp đôi, từ 450 tỷ USD vào năm 2023 lên 970 tỷ USD vào năm 2050. Chi phí cho lưới điện sẽ chiếm hơn 25% tổng chi phí năng lượng vào năm 2050, trong khi hiện tại chỉ chiếm 15%. Sự gia tăng tỷ lệ này là do chi phí mở rộng lưới tăng lên, trong khi chi phí năng lượng hóa thạch dự kiến sẽ giảm trong tương lai.

    Điện, năng lượng tái tạo và lưới điện trên toàn cầu - Dự báo đến năm 2050

    Hình 6: Chi tiêu năng lượng trung bình toàn cầu trên đầu người.

    Chi phí lưới điện tăng sẽ được tính chuyển sang người tiêu dùng, nhưng do lưới điện trong tương lai sẽ cung cấp gấp đôi lượng điện hiện tại, các khoản phí này có thể giữ ổn định, hoặc giảm ở hầu hết các khu vực. Mô hình hóa giá điện trong tương lai sẽ gặp thách thức từ chi phí dịch vụ phụ trợ linh hoạt, trong khi chi phí sản xuất dự kiến sẽ giảm nhờ vào tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng. Thành phần thuế trong hóa đơn của người tiêu dùng cũng sẽ thay đổi giữa các khu vực, có thể bao gồm khoản bồi thường cho nhà sản xuất năng lượng tái tạo trong những trường hợp giá mua thấp, hoặc bằng không. Từ tất cả các yếu tố này, có khả năng giá điện sẽ giữ ổn định tương đối theo kWh từ nay đến 2050.

    Một yếu tố quan trọng bên cạnh giá điện là hiệu suất năng lượng, khi các hộ gia đình điện khí hóa các nhu cầu sử dụng cuối cùng (chẳng hạn như giao thông truyền động bằng điện, hoặc các bơm nhiệt) sẽ giúp tiết kiệm năng lượng và chi phí.

    Dự báo cho thấy, chi tiêu năng lượng trung bình của hộ gia đình sẽ giảm so với mức GDP bình quân đầu người đang tăng trên toàn cầu từ nay đến 2050. “Lợi ích hiệu suất” này đạt được ở các cấp độ thành phố, khu vực và quốc gia. Việc chuyển đổi nhanh chóng, thông minh, an toàn sang các hệ thống điện mới sẽ là điều thiết yếu cho khả năng cạnh tranh của các thành phố và khu vực, cũng như trong bối cảnh khẩn cấp của biến đổi khí hậu toàn cầu./.

    THỰC HIỆN: HOÀNG BẢO - PECC2

    Tài liệu tham khảo: Energy transition outlook - New power systems: Electricity, renewables generation, and grids through to 2050, DNV, 2024.

    Theo Năng Lượng Việt Nam

    THỐNG KÊ TRUY CẬP
    • Đang online 55
    • Truy cập tuần 6352
    • Truy cập tháng 2787
    • Tổng truy cập 695377