Băng tan làm nước biển dâng ảnh hưởng đến hàng triệu người dân vùng ven biển
Các tảng băng lớn ở vùng Greenland và Nam Cực sẽ có nhiều khả năng tan vỡ thêm nữa khi nhiệt độ trái đất tăng thêm nửa độ C làm ảnh hưởng đến hàng triệu người dân sống ở vùng ven biển trong đó có Việt Nam.
Băng tan làm nước biển dâng ảnh hưởng đến hàng triệu người dân vùng ven biển
Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học từ Hàn Quốc và Mỹ cho thấy mối nguy về mực nước biển tăng sẽ diễn ra trong vòng vài thế kỷ và mức độ ảnh hưởng lớn hơn so với dự đoán trước đó.
Theo nghiên cứu này, số người được dự đoán bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng cao thấp hơn so với thực tế lên đến hàng chục triệu người. Nguyên nhân là do dữ liệu vệ tinh đọc không rõ và việc thiếu các nguồn khoa học ở các nước đang phát triển.
Cho đến lúc này, các mô hình khí hậu vẫn dự đoán sai về mức độ nước tan ra từ các tảng băng lớn đóng góp vào mực nước biển tăng vì chỉ đánh giá tác động một chiều do nhiệt độ tăng trên băng mà không thấy được sự tương tác phức tạp giữa môi trường, biển, và băng.
Dự báo xấu nhất có thể xảy ra là việc phát thải khí từ sinh hoạt của con người và tự nhiên tiếp tục tăng, lượng băng tan có thể làm nước biển dâng thêm 1,4 mét.
Một nghiên cứu khác công bố hồi tuần trước cho thấy nước biển dâng sẽ phá huỷ đất đai canh tác, nguồn nước ngọt và khiến hàng triệu người phải dời đi sớm hơn dự kiến.
Các vùng dễ bị ảnh hưởng nhất là Bangladesh, Pakistan, Ai Cập, Thái Lan, Nigeria và Việt Nam.
Trung Quốc: Nhiệt độ có thể lên 50 độ C, nguy cơ vỡ đập vì sông băng tan chảy
Trung Quốc sẽ hứng chịu nhiều đợt nắng nóng trong 10 ngày tới từ đông sang tây, với một số thành phố ven biển đã ở mức báo động cao nhất và các khu vực nội địa cảnh báo nguy cơ vỡ đập vì sông băng tan chảy.
Nhiệt độ dự kiến sẽ tăng đột biến vào ngày 23.7 ở Trung Quốc, trước khi tích tụ thành các đợt nắng nóng, được định nghĩa là các khoảng thời gian thời tiết nóng bất thường kéo dài từ ba ngày trở lên. Thứ 7 này sẽ là ngày "nhiệt độ lớn" trong niên giám thống kê Trung Quốc dựa trên âm lịch.
Fu Jiaolan, Trưởng dự báo tại Trung tâm Khí tượng Quốc gia, cho biết đợt nắng nóng có phạm vi tương tự như các đợt nắng nóng từ ngày 5-17.7, nhưng nhiều khu vực hơn có thể bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ từ 40 độ C trở lên.
Một số thành phố ở tỉnh Chiết Giang, nơi có nhiều nhà máy và nhà xuất khẩu, hôm 21.7 đã ban hành cảnh báo đỏ, mức cao nhất trong hệ thống cảnh báo ba cấp, dự báo nhiệt độ ít nhất 40 độ C trong 24 giờ tới.
Công suất tiêu thụ điện quốc gia có thể đạt mức cao mới trong mùa hè này khi nhu cầu dùng điều hòa không khí của gia đình, văn phòng và nhà máy tăng cao, với việc vận hành an toàn đang phải đối mặt với "các bài kiểm tra nghiêm trọng". Bộ Quản lý Khẩn cấp Trung Quốc cảnh báo điều này hôm 22.7.
"Với tất cả các nhà máy ở Trung Quốc và tại Thượng Hải, chúng tôi có những quy định cần phải tuân theo. Mỗi năm chúng tôi đều làm những điều giúp công việc thoải mái hơn, chẳng hạn như cho công nhân ăn kem khi trời quá nóng", Leo Zhang, Chủ tịch của nhà sản xuất sản phẩm hóa chất Sika China, thổ lộ.
Bộ Quản lý Khẩn cấp Trung Quốc cho biết Chiết Giang cùng các khu vực Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Nam, Giang Tây và thành phố Trùng Khánh cũng có nguy cơ cháy rừng trong thời gian tới.
Tại khu vực Tân Cương, băng tan tăng tốc kéo dài đến ngày 29.7 gây ra rủi ro cho các con sông và đập, Cục Khí tượng Trung Quốc cho biết và đặc biệt cảnh báo nguy cơ vỡ đập cao trên một nhánh của sông Aksu gần biên giới Trung Quốc với Kyrgyzstan.
Chính quyền thông báo đợt thời tiết nắng nóng này sẽ có "mức độ ảnh hưởng nhất định" đến sự tan chảy của băng tuyết trên núi cao.
Cái nóng ở Trung Quốc vào mùa hè này đã được mô tả là cực đoan. Từ ngày 1.6 đến ngày 20.7, các lưu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử - những trung tâm chính của ngành công nghiệp và thương mại - đã phải hứng chịu ít nhất 10 ngày nhiệt độ cao hơn mức bình thường.
Các đợt nắng nóng cũng đã thiêu đốt những khu vực khác của Đông Á, Tây Âu, Bắc Phi và Bắc Mỹ, làm bùng phát các đám cháy rừng ở nhiều quốc gia.
Các nhà khoa học cảnh báo rằng biến đổi khí hậu sẽ chỉ làm cho các đợt nắng trở nên nóng hơn và thường xuyên hơn.
Nhiệt độ cao nhất từng được ghi nhận ở Trung Quốc đang là vấn đề gây tranh cãi. Theo truyền thông Trung Quốc, thời kỳ nóng nhất trong 300 năm qua là vào tháng 7.1743 dưới triều đại nhà Thanh, khi một nhà truyền giáo người Pháp ở Bắc Kinh được cho đã ghi nhận mức nhiệt cao nhất mọi thời đại là 44,4 độ C.
Vào năm 2015, một cổng thông tin địa phương đưa tin 50,3 độ C tại một trạm thời tiết gần Ngải Đinh, hồ nước khô ở vùng Thổ Lỗ Phiên của Tân Cương.
Cơ quan quản lý khí tượng Trung Quốc cho biết nhiệt độ ở ốc đảo thành phố Thổ Lỗ Phiên có thể lên tới 50 độ C vào tuần tới.
Hôm 12.7 vừa qua, một số thành phố tại Trung Quốc đã ghi nhận mức nhiệt cao kỷ lục khi các nhà dự báo cho biết các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ kéo dài vài ngày tới.
Ngày 13.7, Cục Khí tượng Trung Quốc (CMA) cho biết nhiệt độ tại thành phố Vô Tích, thuộc tỉnh Giang Tô, có nơi tăng lên 41,3 độ C, mức nhiệt cao nhất từ trước đến tại đây.
Đặc biệt, các thành phố Lô Châu và Nghi Tân (thuộc tỉnh Tứ Xuyên), thành phố Chiêu Thông (thuộc tỉnh Vân Nam), Thiệu Hưng, Ninh Ba, Gia Hưng và Hồ Châu (thuộc tỉnh Chiết Giang), Thường Châu và Vô Tích (thuộc tỉnh Giang Tô) hứng chịu nền nhiệt trong khoảng 40-42 độ C.
Nhiều nơi thuộc các tỉnh Tứ Xuyên, Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Bắc, An Huy, cùng với các thành phố Trùng Khánh và Thượng Hải cũng ghi nhận mức nhiệt cao nhất từ 37-39 độ C.
Video clip được lan truyền trên mạng xã hội Trung Quốc cho thấy một con kiến đã chết chỉ vài giây sau khi bị bỏ lên vỉa hè ở thành phố Đan Dương, tỉnh Giang Tô, giữa nắng nóng gay gắt.
Theo Thời báo Hoàn Cầu, nhiệt độ trên mặt đất ở thành phố Đan Dương có nơi đã đạt tới 65 độ C vào hôm 14.7.
Ngày 15.7, không khí nóng đã bao trùm nhiều khu vực của Trung Quốc như thành phố Thượng Hải, tỉnh Tứ Xuyên (tây nam Trung Quốc), tỉnh Chiết Giang và Giang Tô (miền đông Trung Quốc)... ảnh hưởng đến hơn 900 triệu dân và hơn một nửa lãnh thổ Trung Quốc.
Nhiều thành phố tại nước này đã chìm trong đợt nắng nóng hơn một tháng và có nơi nhiệt độ tăng vọt lên trên 44 độ C. Những đợt nắng nóng kéo dài đã đe dọa mùa màng và cuộc sống của người dân, đồng thời đẩy mức sử dụng điện của Trung Quốc lên mức cao kỷ lục.
Sun Shao, nhà nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Khí hậu quốc gia trực thuộc Cục Khí tượng Trung Quốc, nói đợt nắng nóng năm 2022 đã đến sớm hơn tại Trung Quốc và nhiệt độ trung bình của tháng 6 đã đạt mức cao nhất kể từ năm 1873.
Kể từ tháng 6, Trung Quốc đã trải qua thời tiết nóng, với 71 trạm thời tiết quốc gia ghi nhận nhiệt độ phá kỷ lục, trong đó nhiệt độ cao nhất được ghi nhận là 44,2 độ C tại huyện Linh Thọ, tỉnh Hà Bắc, phía bắc Trung Quốc.
Không chỉ Trung Quốc, các nhà khí tượng cảnh báo biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến các đợt nắng
Rõ ràng là có lý do để các nhà khoa học đặt cho thềm băng này một cái tên như vậy.
Nếu bạn đang định làm một cái gì đó, tại sao không làm ngay từ bây giờ? Các nhà địa chất học cho biết một sông băng được mệnh danh là "Ngày tận thế" ở Nam Cực đang sắp tan đến điểm tới hạn.
"Tipping point", thuật ngữ để chỉ điểm tới hạn này có nghĩa là nếu sông băng tan vượt ngưỡng đó, nó sẽ kích hoạt một chuỗi các vụ tan chảy không thể ngăn cản nổi. Kết quả là toàn bộ dải băng ở Tây Nam Cực sẽ đổ xuống đại dương, làm dâng nước biển lên hàng mét và nhấn chìm nhiều thành phố ven biển.
"Đường bờ biển của chúng ta hiện nay, tới lúc đó, sẽ không khác gì so với khoảng không vũ trụ", Robert DeConto, một nhà băng học tại Đại học Massachusetts cho biết. "Đó sẽ là một sự thay đổi mang tính toàn cầu".
Rõ ràng, có lý do để người ta đặt biệt danh cho sông băng này là "Ngày tận thế".
Thwaites Glacier là một thềm băng ở Nam Cực có kích thước gần bằng toàn bộ miền bắc Việt Nam. Và nó đang tan chảy đến điểm tới hạn.
Sông băng mà chúng ta đang nói tới có tên gọi là Thwaites Glacier. Nó là một khu vực ở Nam Cực có diện tích 190.000 km vuông, gần bằng toàn bộ miền bắc Việt Nam. Các nhà khoa học để ý đến thềm băng này là bởi hàng năm nó đóng góp vào tới 4% tổng lượng nước biển dâng trên toàn thế giới.
Hơn nữa, sự ấm lên của đại dương đang làm xói mòn vào chân của thềm băng này, khiến nó có nguy cơ mất toàn bộ phần móng bám vào lục địa Nam Cực từ giờ cho tới hết thế kỷ.
Sự kiện xảy ra với Thwaites Glacier sau đó có thể kích hoạt một thảm họa mang tính sử thi với nhân loại. Vì vậy, các nhà khoa học đang tích cực chạy đua để viết những chương cuối đánh dấu biến cố biên niên sử đó.
Mới đây nhất, trong một báo cáo tại hội thảo thường niên của Liên minh Địa vật lý Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu tại Đại học Oregon cảnh báo sự kiện sụp đổ của Thwaites Glacier có thể tới sớm hơn chúng ta mong đợi.
Một cuộc khảo sát thực địa tại thềm băng Thwaites.
Dữ liệu vệ tinh và các cuộc thăm dò địa chất cho thấy các phần của sông băng Thwaites đang biến mất với tốc độ 2 km mỗi năm. "Nếu đứng trên tảng băng này và nhìn ra xa, đường chân trời mà bạn thấy đang gần lại mỗi năm một dặm đường", Ted Scambos, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Hợp tác Khoa học Môi trường Hoa Kỳ cho biết.
Khảo sát mới nhất cũng cho thấy nước ấm đã thấm sâu vào bên dưới lòng sông băng. Sự ăn mòn của nước đã tạo ra những vết nứt lớn. Lizzy Clyne, một nhà nghiên cứu tại Đại học Lewis & Clark cho biết có một khu vực đặc biệt trên Thwaites từng gắn nó với lớp băng nền nhưng bây giờ đã biến thành một cái hốc khổng lồ.
Nước biển ấm thấm sâu vào lớp băng trong lòng Thwaites có nghĩa là phần móng của nó đang ngày càng yếu dần đi. Điều này có thể dẫn đến những dứt gãy và gia tăng số lượng các vết nứt xuất hiện.
Cuối cùng, nó có thể khiến toàn bộ thềm băng sụp đổ. Và sự sụp đổ của Thwaites không chỉ khiến bản thân nó biến mất, mà còn kéo theo sự sụp đổ của các khu vực xung quanh. Đó là lý do sông băng này được mệnh danh là "ngày tận thế".
Nước biển ấm đang ăn mòn vào thềm băng tận thế.
Erin Pettit, một nhà băng học tại Đại học Oregon đã chọn một trong những khu vực có vẻ như vững chắc nhất phía đông sông băng Thwaites để nghiên cứu. Trong suốt nhiều năm, Pettit cho biết đây là công việc buồn chán bởi hầu như chẳng có gì xảy ra ở phần này của Nam Cực.
Nhưng hình ảnh vệ tinh mới nhất đã khiến Pettit giật mình khi phát hiện một vết nứt trên đó. Cô ví nó như một vết nứt trên kính chắn gió phía trước xe ô tô. Mới đầu trông nó có vẻ vô hại, nhưng vết nứt sẽ lan dần ra và cuối cùng khiến chiếc kính vỡ vụn.
"Thềm băng phía đông này đang đứng trước nguy cơ vỡ ra thành hàng trăm mảnh", Pettit nói. "Sự sụp đổ đó có thể đến trong một khoảnh khắc".
Nhưng trong khi bạn có thể thay kính chắn gió cho xe của mình, không có một dịch vụ sửa chữa nào nhận thay gần 20 vạn km vuông băng ở Nam Cực.
Nếu nó đổ xuống đại dương, sông băng Thwaites có thể kích hoạt một chuỗi domino của cả thềm băng và các vách băng lớn phía Tây Nam Cực. Điều này sẽ khiến mực nước biển toàn cầu dâng lên 3 mét và đặt cả thế giới vào một quỹ đạo nguy hiểm.
Thế hệ chúng ta sẽ là những người phải chứng kiến và chịu các tác động nặng nề từ băng tan ở Nam Cực.
Câu hỏi lớn lúc này là thời gian còn lại khoảng bao lâu? Scambos cho biết mọi thứ đang tiến triển rất nhanh ở Nam Cực. Có thể sông băng Thwaites sẽ vượt qua điểm tới hạn của nó trong khoảng 3-5 năm tới.
"Trong chưa đầy một thập kỷ, chúng ta sẽ chứng kiến một sự thay đổi đáng kể với mặt trước của sông băng này. Khi điều đó xảy ra, phần dòng chảy xiết của Thwaites có thể mở rộng ra vì hệ thống giằng ở phía đông có thể đã biến mất. Các quá trình tiếp theo sẽ xảy ra trong vòng vài thập kỷ", Scambos nói.
Đó rõ ràng là một tin xấu để thế giới bắt đầu phải lo lắng. Thwaites có thể là một sự kiện lớn tiếp theo xuất hiện trong các cuốn sách giáo khoa về lịch sử địa chất. Thế hệ chúng ta sẽ là những người phải chứng kiến nó và chịu các tác động nặng nề của nó.
Tham khảo Gizmodo, Washingtonpost
Thế giới lo lắng khi băng tan ở Mỹ
Một trong những hiệu ứng nổi bật nhất khi trái đất nóng lên đang xảy ra dưới mặt đất ở Hoa Kỳ - tác động này sẽ buộc hàng ngàn người phải tái định cư, đi kèm với những hệ quả toàn cầu không lường được. Sara Goudarzi tường thuật từ Alaska.
Vladimir Romanovsky đi qua khu rừng vân sam đen dày đặc một cách dễ dàng. Ông không phải dừng lại một thoáng nào để giữ thăng bằng nền đất đầy rêu trơn trượt cách ly với nền băng vĩnh cửu bên dưới.
Alamy
Đó là một ngày trời ấm áp vào tháng Bảy, nhà khoa học này đang tìm chiếc hộp mà ông và nhóm nghiên cứu đã lắp đặt dưới lòng đất. Nó được đặt ở nơi cách 10km về phía bắc so với Viện Địa Chất Đại học Alaska ở Fairbanks, nơi ông giảng dạy môn địa chất và là lãnh đạo Phòng thí nghiệm Băng vĩnh cửu.
Chiếc hộp được che phủ sau tàng cây, chứa một bộ thu thập dữ liệu kết nối với nhiệt kế đặt bên dưới lòng đất để đo nhiệt độ băng vĩnh cửu tại các độ sâu khác nhau. Băng vĩnh cửu là tên gọi cho bất cứ loại vật chất trái đất nào có nhiệt độ dưới 0 độ C liên tiếp trong hai năm.
Romanovsky kết nối máy tính với bộ thu dữ liệu để chuyển dữ liệu nhiệt độ từ địa điểm này - được gọi là Goldstream III - và sau đó ông sẽ đổ dữ liệu này vào kho dữ liệu trên mạng giúp các nhà khoa học và những người thích tìm hiểu vấn đề này truy cập.
Anthony Rhoades
Vladimir Romanovsky kiểm tra số đo nhiệt độ bên dưới nền đất rừng
"Băng vĩnh cửu được xác định dựa trên nhiệt độ, tham số này thể hiện tính ổn định của nó," Romanovsky cho biết.
Khi nhiệt độ băng vĩnh cửu dưới 0 độ C, chẳng hạn ở -6 độ C, nó được coi là ổn định và mất nhiều thời gian mới tan chảy hoặc biến động. Tuy nhiên nếu nhiệt độ gần đến 0 độ C, vật chất này dễ bị biến đổi.
Mỗi mùa hè, lượng đất trên nền băng vĩnh cửu, còn được gọi là lớp đang hoạt động, sẽ tan ra, trước khi đóng băng trở lại vào mùa đông kế tiếp. Tại Goldstream III, vào ngày tháng Bảy năm nay, mùa hè đã làm tan băng sâu đến 50cm.
Khi Trái Đất ấm dần lên và nhiệt độ vào mùa hè lên cao, hiện tượng tan băng càng sâu hơn và lan rộng hơn, khiến nền băng vĩnh cửu bên dưới càng bất ổn định hơn.
Nếu hiện tượng băng tan tiếp diễn, hệ quả sẽ rất lớn với Alaska và cả thế giới. Gần 90% diện tích bang này nằm trên nền băng vĩnh cửu, điều này có nghĩa tất cả làng mạc sẽ phải tái định cư, cũng như các cấu trúc nhà cửa và đường sá sẽ bị phá hủy. Và nếu trữ lượng băng này làm tan chảy và giải phóng trữ lượng carbon từ hàng thiên niên kỷ qua, nó sẽ đẩy nhanh hiện
"Nếu chúng ta tiếp tục duy trì hoạt động như hiện thời, hay còn gọi là kinh doanh như cách ta nói, thì gần như chắc chắn đến năm 2100, một phần đáng kể lượng băng vĩnh cửu ở độ sâu 5m kể từ bề mặt sẽ tan chảy với tất cả những vật chất hữu cơ đang đóng băng trong đó," Kevin Schaefer, một nhà nghiên cứu từ Trung tâm Dữ liệu Băng Tuyết Quốc gia tại Đại học Colorado cho biết "Điều này có thể cho thấy một lượng phát thải khí carbon dioxide và methane, vốn có thể tăng cường hiện lượng nóng lên do đốt các nguyên liệu hóa thạch."
Trong thực tế, theo một báo cáo năm 2012 do Tạp chí Nature xuất bản, Schaefer và các đồng tác giả chỉ ra các sự kiện nóng lên bất thường trong quá khứ thường được kích hoạt bởi hiện tượng trào khí carbon dioxide và khí methane từ băng vĩnh cửu khoảng 50 triệu năm trước tại Nam Cực.
Và các con số dự đoán không có gì đáng hứa hẹn lắm. "Theo lý thuyết nếu khí carbon này thoát vào bầu khí quyển, lượng CO2 sẽ tăng gấp ba lần hiện thời [trong khí quyển]," Romanovsky cho biết.
Vì thế đây thực sự là một vòng lặp phản hồi vì nó tăng cường hiện tượng nóng lên do đốt các loại nguyên liệu hóa thạch. Và mặc dù trong thực tế hiện tượng nóng lên được tăng cường, thì hiệu ứng phản hồi cũng sẽ chậm chạp, cần thời gian để thấy rõ hơn. "Đó là một phản ứng rất chậm," Schaefer cho biết. "Hãy tưởng tượng ta cố gắng đẩy một con tàu hơi nước đi bằng một chiếc ván chèo, đó là kiểu phản ứng mà chúng tôi đang nói tới."
Thật không may, một khi băng bắt đầu tan, rất khó để có thể khiến chúng đóng băng lại, ít nhất là trong thời đại của ta. Xa hơn nữa, một khi sự phân rã xảy ra trên mặt đất và vào bầu khí quyển, không có cách nào dễ dàng để đưa khí carbon quay trở lại lòng đất.
"Cách duy nhất để làm việc đó là giảm nhiệt độ toàn cầu và đóng băng lại băng vĩnh cửu, nghĩa là bạn phải loại bỏ khí carbon dioxide khỏi bầu khí quyển," Schaefer nói.
Các mô hình khí hậu cho thấy cam kết của các tổ chức liên chính phủ làm giảm độ nóng lên - theo Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu- có lẽ vẫn là chưa đủ, Romanovsky giải thích.
Anthony Rhoades
Trong báo cáo năm 2016 đăng trên trang Nature Climate Change, nhà nghiên cứu Sarah Chadburn cùng các đồng nghiệp ước tính thậm chí nếu khí hậu có thể được ổn định theo thỏa thuận từ 196 bên vào năm 2015, "các khu vực băng tan có thể cuối cùng sẽ giảm đến 40%".
Tuy nhiên, với tuyên bố từ tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đòi rút khỏi Hiệp đinh Paris về biến đổi khí hậu hồi tháng Sáu, nguy cơ mất băng vĩnh cửu giờ đây gần hơn bao giờ hết.
Trò chơi đổ lỗi
Alaska là một bang bảo thủ về chính trị, vì thế người ngoài có thể nghĩ rằng cư dân từ chối ý tưởng cho rằng cả hành tinh đang nóng lên ngoài khả năng kiểm soát của con người. Sự thực còn phức tạp hơn thế nhiều.
Theo một khảo sát 750 người tham dự được tiến hành đầu năm nay bởi tờ báo Alaska Dispatch News, hơn 70% dân Alaska quan ngại trước những hiệu ứng của biến đổi khí hậu.
"Ở Alaska, bất cứ ai bạn hỏi cũng sẽ đáp 'đúng, đang có sự nóng lên,'" Romanovsky nói. "Bạn càng đi xa về phía bắc, đặc biệt là phía Tây Bắc, cảm giác đó càng rõ ràng hơn. Bởi vì nó thực sự đang xảy ra, bạn thấy nó. Tất nhiên, câu hỏi là ai sẽ chịu trách nhiệm sẽ tùy theo niềm tin chính trị."
Tại Khu Bảo tồn và Công viên Quốc gia Denali, nhân viên kiểm lâm Anna Moore tại khu bảo tồn đã chứng kiến hiệu ứng nóng lên toàn cầu tác động đến động vật hoang dã chỉ trong vài năm gần đây. Bà nhận thấy thỏ Bắc cực, thường chuyển màu lông từ nâu sang trắng theo mùa có vẻ như không thích nghi kịp vì những biến đổi do nhiệt độ tăng lên, và điều này đặc biệt khiến chúng gặp nguy cơ.
"Trong mùa đông, chúng có màu lông trắng ở đầu sợi lông," Moore nói. "Khi thời tiết ấm hơn, tuyết tan nhanh hơn, nhưng cơ thể chúng chưa thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ đủ nhanh và vì thế dù tuyết đã tan, chúng vẫn có màu trắng và dễ gặp nguy hiểm trước những con thú săn mồi hơn."
Moore nói dù bà tin có hiện tượng biến đổi khí hậu và đang quan sát ảnh hưởng đến các loài thực vật và động vật tại công viên, bà cho rằng đây là hệ quả của cả hoạt động của con người lẫn quy trình tự nhiên.
Đồng nghiệp Ashley Tench của bà cũng nhắc lại cảm xúc này: "Tôi đồng ý với bà ấy khi cho rằng một phần là do con người và một phần do tự nhiên." Với ảnh hưởng đó, Tench không tin hành động của Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định Paris sẽ có tác động gì khác biệt với khí hậu.
Nhưng không phải ai ở Alaska cũng đồng tình với ý kiến này. Với Bill Beaudoin, một thủy thủ tàu ngầm và giảng viên giờ đang làm chủ một nhà nghỉ nhỏ ở Fairbanks, ông cho rằng quá rõ ràng đây là lỗi của con người và chúng ta cần phải hành động để đảo ngược những hệ quả ta gây ra.
"Tôi nghĩ Hiệp định Paris về Biến đổi khí hậu là cần thiết," ông nói. "Trong thực tế, tôi không nghĩ thế là đủ. Chỉ có một quốc gia, Nicaragua, không ký vào hiệp định vì họ không nghĩ nó không đủ mạnh. Tôi có lẽ đồng tình với Nicaragua về ý kiến này."
Dù cho ai là kẻ gây ra hiện tượng nóng lên dẫn đến băng tan, người Alaska là những người lo lắng nhất về tương lai.
Anthony Rhoades
"Mọi người đều lo lắng, vì dĩ nhiên không có bảo hiểm băng tan," Romanovsky nói. "Bảo hiểm không chi trả cho những thiệt hại do băng tan gây ra như họ vẫn làm ở California khi xảy ra động đất."
Quay trở lại với Goldstream III, Romanovsky ghi chú rằng tại độ sâu 50cm, nhiệt độ của đất là -0.04 độ C. Tại độ sâu 1 mét nhiệt độ là -0.23 độ C. Lần cuối cùng ông kiểm tra dữ liệu vào tháng Ba, tại vị trí độ sâu một mét, nhiệt độ của đất đo được là -1.1 độ C.
Ông lấy xẻng và đào một lỗ trên mặt đất để xem xét đất và kiểm tra lượng carbon bên trong. Lớp đất sậm màu hơn cho thấy lượng carbon hữu cơ trong đó nhiều hơn. Ông càng đào sâu xuống, đất càng lạnh hơn. Romanovsky đào cho tới khi xẻng chạm vào lớp băng vĩnh cửu và có vẻ như không thể xuống sâu hơn nữa.
Ông đào dấn sâu xuống một chút và lấy được một chút băng vĩnh cửu - nhỏ bằng cỡ một đồng xu. Chỉ vài giây sau khi ông giữ lớp đất đóng băng giữa các ngón tay, nó tan chảy như một viên đá lạnh. Ông lấp đất trong hố lại, ngắt kết nối máy tính với thiết bị thu thập dữ liệu, đóng chiếc hộp và phủ nó lại bằng cành cây, dọn dẹp và rời khỏi hiện trường. Trong một tuần tới ông sẽ đi về phía Bắc và thu thập nhiệt độ từ các nơi khác để thêm dữ liệu vào một trong những cơ sở dữ liệu toàn diện nhất về băng vĩnh cửu trên thế giới.
Trong khi đó, từng chút một, miền bắc đóng băng của Châu Mỹ đang tan dần và điều gì xảy ra tiếp theo vẫn chưa ai biết được. Điều chắc chắn là khi hiện tượng băng tan khổng lồ xảy ra nó sẽ thay đổi vĩnh viễn cảnh quan quen thuộc một thời, và có lẽ sẽ thay đổi cả hành tinh cùng những sinh vật sống trên đó.
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.
băng tan là chủ đề lớn trong câu chuyện sinh tồn của hành tinh này trước biến đổi khí hậu .. sự kiện băng tan đỉnh núi himalaya và sụp đổ nguyên tảng gây thảm họa 26.8.2026 trong 3 tháng siêu el nino nhiệt độ đại dương ấm hơn ..( và rất khó đảo ngược vì định luật tích nhiệt nhanh ,giải nhiệt chậm - vì không có hệ thoát nhiệt ,xả nhiệt - )
Nó báo hiệu ,các giới khoa học nên đánh giá lại toàn diện thời gian sinh tồn sinh thái của hành tinh ...
Chắc chắn rồi. Các dữ liệu khoa học lẫn những hiện tượng cực đoan gần đây (từ Nam Cực, Greenland, các vùng sông băng trên núi cao cho đến lớp băng vĩnh cửu) đều đang gióng lên hồi chuông cảnh báo cấp bách: biến đổi khí hậu không còn là câu chuyện của tương lai, mà đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn mọi mô hình dự báo trước đây.
Nhìn một cách tổng thể từ góc độ vật lý và sinh thái học, có 3 yếu tố cốt lõi giải thích tại sao hiện tượng băng tan và biến đổi khí hậu lại đáng lo ngại đến vậy:
1. Cơ chế "Quán tính nhiệt" (Tích nhiệt nhanh, giải nhiệt chậm)
-
Không có hệ thống xả nhiệt: Trái Đất là một hệ kín về mặt vật chất và năng lượng nhiệt. Đại dương đóng vai trò như một "bể hấp thụ nhiệt" khổng lồ, lưu trữ hơn 90% lượng nhiệt dư thừa do khí nhà kính giữ lại.
-
Hiệu ứng tích tụ: Nước có nhiệt dung riêng rất lớn, đồng nghĩa với việc cần thời gian rất lâu để nguội đi. Ngay cả khi con người dừng hoàn toàn việc phát thải CO2 ngay hôm nay, lượng nhiệt đã tích tụ trong đại dương vẫn tiếp tục làm tan chảy các chân thềm băng (như sông băng Thwaites ở Nam Cực) trong nhiều thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ tới.
2. Các "Điểm tới hạn" (Tipping Points) và Vòng lặp phản hồi dương Băng tan không diễn ra theo đường thẳng (tuyến tính) mà theo các phản ứng chuỗi không thể đảo ngược một khi đã vượt qua ngưỡng tới hạn:
-
Giảm hiệu ứng Albedo (phản xạ ánh sáng): Băng tuyết trắng phản xạ phần lớn ánh sáng mặt trời trở lại không trung. Khi băng tan, bề mặt đại dương hoặc đất đá tối màu bên dưới sẽ hấp thụ nhiều nhiệt hơn, làm Trái Đất nóng lên nhanh hơn và tiếp tục làm băng tan nhiều hơn.
-
Rã đông lớp băng vĩnh cửu (Permafrost): Như các nghiên cứu tại Alaska hay Siberia chỉ ra, khi lớp băng vĩnh cửu tan chảy, hàng tỷ tấn khí methane (CH4) và CO2 tích tụ từ hàng ngàn năm sẽ giải phóng vào khí quyển. Methane có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp nhiều lần CO2 trong ngắn hạn, tạo thành một vòng lặp thúc đẩy đà tăng nhiệt độ.
-
Sụp đổ cấu trúc giằng: Việc nước biển ấm ăn mòn chân thềm băng làm xói mòn phần móng chắc chắn nhất. Khi các "điểm tựa" này vỡ ra (như cảnh báo về sông băng Thwaites), đà chảy của cả dải băng phía sau ra đại dương sẽ gia tăng đột biến.
3. Tác động đa chiều đến sự sinh tồn của con người
-
Nước biển dâng & Địa chính trị: Mực nước biển dâng từ 1m đến vài mét không chỉ nhấn chìm các đồng bằng duyên hải (như Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, Bangladesh, Ai Cập) mà còn làm nhiễm mặn nguồn nước ngọt, phá hủy đất canh tác nông nghiệp, gây ra cuộc khủng hoảng di dân khí hậu lên tới hàng chục triệu người.
-
Cực đoan hóa thời tiết: Sự mất cân bằng nhiệt độ giữa cực và xích đạo làm thay đổi dòng jet stream (dòng xiết gió tầng cao), dẫn đến các đợt sóng nhiệt kéo dài, hạn hán dữ dội, xen kẽ với các đợt mưa lũ cực đoan và vỡ hồ băng/đập thủy điện trên các dãy núi cao.
Sự kiện biến đổi khí hậu hiện nay buộc giới khoa học toàn cầu phải liên tục cập nhật và điều chỉnh các mốc thời gian sinh thái. Việc hiểu rõ tính chất "khó đảo ngược" của tích tụ nhiệt là cơ sở quan trọng để các quốc gia đẩy nhanh hơn nữa chiến lược thích ứng, bảo vệ nguồn nước ngọt, quy hoạch lại hạ tầng ven biển và chuyển đổi năng lượng khẩn cấp.
Nếu siêu elnino lập lại 7 năm / lần vời cường độ tăng thêm ,có lẽ khoảng 30 năm nữa các vùng nguy cơ cao chiếm 20% diện tích và 1/ 5dân số sẽ đạt ngưỡng 50 độ C 5 tháng cùng mưa bão ,thảm họa ..
Hãy hình dung thế giới 2060 ?
Kịch bản bạn đưa ra về một chu kỳ Super El Niño biến đổi với tần suất 7 năm/lần và cường độ gia tăng liên tục đến năm 2060 mô tả một cột mốc nguy hiểm trong sinh thái học: ngưỡng chống chịu cực đại của hạ tầng và sinh học con người.
Nhiệt độ 50°C kéo dài nhiều tháng combined với độ ẩm cao (từ mưa bão cực đoan) tạo ra chỉ số "nhiệt độ bầu ướt" (wet-bulb temperature) vượt ngưỡng 35°C — mức giới hạn tự nhiên mà cơ thể người không thể tự làm mát bằng cách tiết mồ hôi.
Dưới góc nhìn địa chính trị, kinh tế và môi trường, bức tranh thế giới năm 2060 trong kịch bản này sẽ tái cấu trúc toàn bộ đời sống con người:
1. Tái định hình bản đồ dân cư và di dân khí hậu
-
Vùng không thể sinh sống (Uninhabitable Zones): Các khu vực ven biển, đồng bằng thấp và tiểu lục địa chịu ảnh hưởng (Nam Á, Đông Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi) sẽ không thể duy trì sinh hoạt ngoài trời vào mùa hè.
-
Làn sóng di dân lớn nhất lịch sử: Hàng trăm triệu người từ các vùng nguy cơ cao sẽ dịch chuyển về phía các vĩ độ cao hơn (Bắc Âu, Nga, Canada, Nam Nam Mỹ). Điều này tạo ra áp lực khổng lồ lên hạ tầng, biên giới và ổn định xã hội ở các quốc gia tiếp nhận.
2. Khủng hoảng an ninh lương thực và nguồn nước
-
Suy giảm sản lượng nông nghiệp: Nhiệt độ 50°C kéo dài làm suy thoái chất lượng đất, triệt tiêu khả năng thụ phấn của nhiều loại cây trồng chủ lực (lúa nước, ngô, đậu nành). Sự xen kẽ giữa hạn hán thiêu rụi và mưa lũ bão càn quét sẽ làm gãy đổ chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu.
-
Xâm nhập mặn và cạn kiệt nước ngọt: Nước biển dâng kết hợp với bão lớn băm nát các vùng đồng bằng duyên hải (như Đồng bằng sông Cửu Long hay sông Hằng), biến các nguồn nước ngọt nội địa thành nước lợ.
3. Đảo ngược mô hình kinh tế và cấu trúc hạ tầng
-
Nền kinh tế "Tránh nóng" (Nocturnal Economy): Tại các vùng chịu ảnh hưởng, nhịp sống lao động ngoài trời (xây dựng, nông nghiệp, vận tải) buộc phải chuyển hoàn toàn sang ban đêm.
-
Quá tải và sụp đổ lưới điện: Nhu cầu làm mát khổng lồ chạm đỉnh vào mùa hè. Nếu lưới điện sự cố trong một đợt sóng nhiệt 50°C, thảm họa tử vong hàng loạt do sốc nhiệt có thể diễn ra chỉ trong vài giờ.
-
Chuyển đổi kiến trúc: Hạ tầng đô thị phải thiết kế lại hoàn toàn: thành phố ngầm, các tổ hợp không gian sống khép kín có điều hòa không khí trung tâm và hệ thống lọc nước tuần hoàn.
4. Địa chính trị và an ninh toàn cầu
-
Tranh chấp tài nguyên: Nước ngọt và đất canh tác trở thành các tài nguyên chiến lược quan trọng hơn cả dầu mỏ. Tranh chấp nguồn nước trên các dòng sông xuyên biên giới (như Mê Kông, Hằng, Nil) trở nên gay gắt.
-
Gia tăng khoảng cách giàu nghèo: Các quốc gia phát triển có đủ tiềm lực tài chính để xây dựng hạ tầng thích ứng (đê biển khổng lồ, nhà máy khử muối từ nước biển, năng lượng tái tạo công suất lớn), trong khi các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ suy sụp kinh tế.
Kịch bản này nhấn mạnh rằng biến đổi khí hậu không chỉ đơn thuần là sự thay đổi của thời tiết, mà là sự thay đổi của toàn bộ điều kiện tồn tại của văn minh con người. Việc chủ động thích ứng, quy hoạch lại không gian sống và bảo vệ tài nguyên ngay từ hôm nay chính là cuộc đua với thời gian để tránh bức tranh 2060 này trở thành thực tế.
