Hướng đi của thể chế thương mại toàn cầu và chiến lược của Việt Nam

22 Trần Quốc Toản, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp.HCM
Tiêu điểm
Tiền Tệ : IMF: Việt Nam nổi lên giữa cuộc tái định hình kinh tế toàn cầu CN & MT: Chiến tranh công nghệ Mỹ-Trung 2025-2035 Tin tức: Triều cường sông Sài Gòn vượt đỉnh lịch sử, nhiều tuyến phố ngập sâu CN & MT: Chiến lược làm mát thông minh tại Trung Quốc: Hạ nhiệt mà không gây áp lực lên lưới điện VH & TG: Vì sao cú sốc dầu mỏ Trung Đông không còn làm khó được Trung Quốc? BĐS: Thị trường bất động sản phía Nam: “Căng não” với bài toán đầu ra BĐS: Nhà phố TPHCM ế khách, nhiều căn rao giảm 16 tỷ đồng vẫn khó bán CN & MT: Việt Nam sẽ ra sao trước siêu El Nino mạnh nhất lịch sử? VH & TG: Điểm mù chiến lược của nước Mỹ BĐS: Thị trường bất động sản bước vào giai đoạn điều chỉnh SK & Đời Sống: Không thể phát triển tương lai bằng tư duy đô thị của quá khứ CN & MT: El Nino phá kỷ lục nhiệt độ tại Thái Bình Dương CN & MT: Tương Lai Đa Dạng Của Phương Tiện Giao Thông VH & TG: Dalio: Fed Cẩn Trọng Lạm Phát Đình Trệ 10.2026 VH & TG: Thách thức tái cấu trúc kinh tế Mỹ VH & TG: Phân Tích Mỹ Chống Lại Mỹ CN & MT: mùa thứ 5. Siêu El Niño 2026-2028 VH & TG: Tóm tắt Chương 11 Sách Stephen Leeb BĐS: Thị trường nhà phố TP.HCM cuối 2026 VH & TG: Trung Quốc: Từ 'cơn sốt' 52.000 tỷ USD đến cuộc khủng hoảng chưa có hồi kết Tin tức: TSKH.KTS Ngô Viết Nam Sơn: TPHCM cần thay đổi tư duy chống ngập Tin tức: DN châu Âu sẽ đầu tư gần 35.000 tỷ đồng, muốn làm mô hình nổi trên biển chưa từng có ở đặc khu lớn nhất VN CN & MT: Loạt tỷ phú tham vọng 'lập trình lại' cơ thể để kéo dài tuổi thọ Tiền Tệ : Kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2026 CN & MT: 11 năm qua là thời gian nóng nhất từng ghi nhận trên toàn cầu Tiền Tệ : Lãi suất thả nổi lên gần 20%; tỷ giá hạ nhiệt nhanh BĐS: Phân tích dòng tiền nhàn rỗi bất động sản BĐS: THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ế ẨM, ANH BẠN TÔI LẠI ĐƯỢC MỘT KHOẢN LỜI LỚN BĐS: Chính phủ đề xuất ưu tiên bồi thường bằng đất hoặc nhà ở tại chỗ cho người bị thu hồi đất Chứng khoán: Phân tích cú rơi chứng khoán 13/8 BĐS: Khởi công ồ ạt dù chung cư bán chậm Thư Giản: 300 Năm Phát Triển Và Cái Giá Thư Giản: Tương lai 2026-2035: Kịch bản BĐS: Nhóm DN bất động sản chìm trong thua lỗ, 'trắng' doanh thu quý I : Trật tự thế giới trước nghịch lý lớn của thời đại : Nếu không sửa luật, dự án bất động sản sẽ tắc trong 10 năm tới Tiền Tệ : Thực trạng nợ xấu ngân hàng 2026 Tiền Tệ : Thị trường trái phiếu Mỹ rung chuyểnChuyện gì xảy ra với loại tài sản “an toàn nhất nhì thế giới”? Tiền Tệ : Xu hướng lãi suất và chiến lược tài chính Tiền Tệ : Dalio : Fed Cẩn Trọng Lạm Phát Đình Trệ Tin tức: Chu Kỳ 18 Năm Và Nguy Cơ 2026 BĐS: Triển vọng Bất động sản Việt Nam 2027-2028 BĐS: Đầu Tư BĐS TP.HCM Giai Đoạn 2026 SK & Đời Sống: Cách nào cứu chợ 'chết lâm sàng': Sức mua giảm 70-80%, nhiều tiểu thương tháo chạy và 'xù nợ' Tin tức: [Bài 1]: Đề xuất hình thành Khu kinh tế biển quy mô 177.000 ha tại TP. Hồ Chí Minh Tin tức: Việt Nam có nền tảng rất thuận lợi để trở thành một quốc gia biển mạnh Tin tức: Tập đoàn Mỹ chọn Việt Nam để xây cứ điểm sản xuất máy bay điện, nhắm cảng hàng không 2.000ha đặt nhà máy SK & Đời Sống: Lãnh đạo, Khủng hoảng và Bài học SK & Đời Sống: Hài hòa lợi ích để tạo động lực cải tạo chung cư cũ VH & TG: Roubini : Dự báo Kinh tế 2026-2027 VH & TG: Phỏng vấn Maud Quessard: “Trump đang hoàn thành quá trình Giải Tây Phương hóa (désoccidentalisation) thế giới mà Putine và Tập mong muốn” CN & MT: Phi hành đoàn Mặt Trăng vượt qua quả cầu lửa 3.000 độ C Thư Giản: Đại Biến Động Thế Kỷ 21: Vận 9 Thư Giản: Con người trần gian và hành trình vũ trụ Thư Giản: [2020s: Một thập kỷ rung động] Thư Giản: Abhigya Anand và dự báo 2026 Thư Giản: Dự đoán Điểm kỳ dị các vị trí q3 Thư Giản: Gemini đã dự cảm khá rỏ dưới lăng kính của mac ngôn thé giới từ 2050. Nhưng từ 2010 ở... CN & MT: Tương lai Đại dương và Hồi phục Sinh thái Chứng khoán: Đầu tư nội địa giữa bất ổn toàn cầu VH & TG: Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ: Răn đe Trung Quốc Chứng khoán: 150 nhà đầu tư toàn cầu đến Việt Nam tìm cơ hội "giải ngân" VH & TG: Nhật Bản cân nhắc vũ khí hạt nhân Chứng khoán: PHẦN 3: THỊ TRƯỜNG THĂNG HOA XUẤT TƯỚNG NHỮNG 'ANH HÙNG' Chứng khoán: VN-Index mất gần 30 điểm Chứng khoán: Mía đường Cao Bằng (CBS) chốt quyền trả cổ tức bằng tiền tỷ lệ 30% Chứng khoán: CHỨNG KHOÁN QUÝ 4.2025 Kì 2 BĐS: 5 lưu ý khi đầu tư LƯỚT SÓNG bất động sản BĐS: Hơn 32.000 căn nhà ở xã hội gần TP.HCM trong kế hoạch xây dựng năm 2025 của Long An Tin tức: Toàn cảnh 25 năm ngập lụt TP.HCM
Bài viết
Hướng đi của thể chế thương mại toàn cầu và chiến lược của Việt Nam

    Từ khi ông Donald Trump nhậm chức Tổng thống ở Mỹ, nhất là lần thứ hai (Trump 2.0) từ tháng 1-2025, trật tự kinh tế thế giới đã thay đổi lớn. Các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển, cấu trúc lại chuỗi cung ứng toàn cầu. Tính bất định của thị trường thế giới cao hơn trước.

    Mặt khác, có nhiều dấu hiệu cho thấy một trật tự kinh tế thế giới mới đang manh nha hình thành. Là một nước hội nhập rất sâu vào thị trường thế giới, Việt Nam cần điều chỉnh chiến lược phát triển như thế nào trong thời gian tới?

    Biến chuyển trong trật tự thương mại toàn cầu và manh nha khuynh hướng mới

    Sau Thế chiến thứ hai, với sự chủ đạo của Mỹ, trật tự mới của kinh tế thế giới hình thành. Trong ngoại thương, đó là sự ra đời của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) năm 1948. Với hai nguyên tắc là tối huệ quốc (MFN) và đãi ngộ như trong nước (NT), hàng hóa buôn bán không bị phân biệt đối xử giữa các nước và giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước.

    Thêm vào đó, qua các vòng đàm phán, thuế quan đã giảm đáng kể, thúc đẩy mậu dịch và phát triển kinh tế thế giới. Từ năm 1948-1994, thuế nhập khẩu bình quân của hàng công nghiệp giảm từ 40% xuống 4,7%. GATT chuyển thành WTO từ năm 1995 và tự do hóa thương mại toàn cầu được đẩy mạnh phát triển sâu và rộng hơn. Tự do thương mại không giới hạn ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả dịch vụ, bảo hộ quyền tài sản trí tuệ. Ngoài ra, trong các cơ chế của WTO còn có cơ quan giải quyết các tranh chấp.

    Từ thập niên 1990, sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm cho các cứ điểm sản xuất trên thế giới được nối kết dễ dàng, và phí tổn thông tin, liên lạc cũng giảm đáng kể. Hiện tượng này, cùng với chính sách tự do thương mại dưới thể chế WTO, đã thúc đẩy doanh nghiệp chia nhỏ các bộ phận cấu thành sản phẩm như linh kiện, bộ linh kiện hoặc các công đoạn và lập các cứ điểm tương ứng tại các nước, kết hợp thành các chuỗi cung ứng toàn cầu (GSC) hoặc khu vực. Như vậy GSC ra đời với hai tiền đề là tự do thương mại và sự phát triển của CNTT.

    Từ lúc gia nhập WTO (năm 2001), Trung Quốc tận dụng thể chế tự do thương mại, tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và du nhập công nghệ; với quy mô lao động lớn nên ngày càng trở thành công xưởng của thế giới, xâm nhập vào khắp các thị trường, đặc biệt là Mỹ. Mặt khác, tại Mỹ, thành phần bất mãn với thể chế tự do thương mại ngày càng tăng, nhất là doanh nghiệp và lao động trong những ngành không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.

    Chính quyền Mỹ cũng ngày càng thấy Trung Quốc vừa hưởng lợi trong thể chế thương mại tự do vừa thi hành các chính sách không công bằng với các nước, chẳng hạn như hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là bảo hộ doanh nghiệp nhà nước, và ép buộc doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư phải chuyển giao công nghệ... Mỹ cũng ngày càng thấy nguy cơ một nước Trung Quốc hùng mạnh cạnh tranh với họ về kinh tế, công nghệ.

    Đó là bối cảnh của sự đối đầu giữa Mỹ - Trung Quốc từ khi ông Donald Trump nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ đầu (Trump 1.0) vào tháng 1-2017. Ngoài chính sách hạn chế các hình thức chuyển giao công nghệ tiên tiến sang Trung Quốc và ngăn chặn những dự án FDI từ Trung Quốc nhằm tìm kiếm công nghệ cao, Mỹ đã áp dụng mức thuế quan cao trên hàng nhập khẩu từ nước này. Từ năm 2018-2019, Mỹ công bố nhiều đợt tăng thuế quan áp dụng cho hàng ngàn mặt hàng nhập từ Trung Quốc với mức thuế từ 10-30%. Sự đối đầu giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhất là việc Mỹ hạn chế nhập khẩu từ công xưởng thế giới, đã làm đứt gãy các chuỗi cung ứng và các công ty đa quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đầu tư.

    Đến thời Trump 2.0 từ tháng 1-2025, chính sách “ưu tiên số 1 cho Mỹ” (America First) càng mạnh hơn và áp dụng không chỉ cho Trung Quốc mà với hầu hết các nước, nhất là những nước Mỹ nhập siêu nhiều. Sau khi Mỹ công bố thuế suất đối ứng cho từng nước (ngày 2-4-2025), dựa trên đánh giá của họ về thực trạng thuế quan, phi thuế quan và mức độ nhập siêu của Mỹ, các cuộc thương lượng giữa Mỹ với từng nước được tiến hành. Cuối cùng, ngày 31-7-2025, Mỹ công bố mức thuế đối ứng đối với hầu hết các nước. Đối với nhiều nước, mức thuế này thấp hơn so với mức thuế quyết định vào tháng 4-2025 nhưng vẫn cao và thêm vào đó, nhiều nước phải cắt giảm thuế nhập khẩu từ Mỹ, phải hứa mua nhiều mặt hàng từ Mỹ thay vì chọn từ nguồn khác.

    Nói chung, thế giới dưới thời Trump 2.0 đã bước vào thời đại mà thương mại quốc tế bị quản lý, bị định hướng. Hơn nữa, chính sách thuế quan của ông Trump rất bất định, có thể thay đổi tùy theo diễn biến của kinh tế - chính trị Mỹ. Do đó trật tự thế giới đang đối diện với sự bất định.

    Trước tình hình đó, các nước đã đối phó theo ba hướng:

    Thứ nhất, chuyển dịch, củng cố, ổn định các chuỗi cung ứng. Để tránh rủi ro, nhiều doanh nghiệp chuyển dịch cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang các nước khác, nhất là Ấn Độ và ASEAN. Một số cơ sở chuyển trở lại nước mình (onshoring). Để ổn định lâu dài chuỗi cung ứng, nhiều nước còn có khuynh hướng chọn những quốc gia có quan hệ ngoại giao mật thiết để đầu tư (friend-shoring).

    Thứ hai, sự đối đầu Mỹ - Trung Quốc làm cho các nước, kể cả Mỹ và Trung Quốc, nỗ lực củng cố năng lực cạnh tranh những ngành có công nghệ cao, tiên tiến. Điểm chung của các nước là nhấn mạnh chính sách công nghiệp (industrial policy), một công cụ bị hạn chế trong thời kỳ mà WTO còn có vai trò lớn và có uy tín trong việc duy trì tự do thương mại.

    Ngày nay WTO xem như hữu danh vô thực nên các nước áp dụng chính sách này để tăng cường năng lực cạnh tranh các ngành công nghiệp, kể cả việc thúc đẩy phát triển các ngành chiến lược, các ngành mới. Công cụ chính là hỗ trợ nghiên cứu và triển khai (R&D), hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp đầu tư, thu hút FDI vào các ngành chiến lược... Điều tra gần đây cho thấy các nước chi tiêu một ngân sách đáng kể cho chính sách công nghiệp.

    Thứ ba, Nhật Bản và một số nước khác đang cố gắng xác lập trở lại thể chế tự do thương mại toàn cầu trong tình hình đối đầu Mỹ - Trung Quốc và chính sách thuế quan của ông Trump vẫn tiếp diễn. Biện pháp cụ thể là củng cố vai trò của các hiệp định thương mại tự do như Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

    Củng cố bằng cách mở rộng, đón nhiều thành viên mới (trường hợp CPTPP) hay thâm sâu, tăng cường các nội dung hợp tác của hiệp định (trường hợp CPTPP và RCEP). Đặc biệt, CPTPP đang có khuynh hướng mở rộng sang cả những nước ngoài khu vực Thái Bình Dương sau khi Anh gia nhập (2024). Nếu EU cũng gia nhập thì CPTPP sẽ trở thành một nền kinh tế lớn hơn Mỹ (năm 2024, GDP của Mỹ là 29.200 tỉ đô la Mỹ, trong khi CPTPP và EU cộng lại là 34.800 tỉ đô la Mỹ).

    Theo tính toán của Viện nghiên cứu Kinh tế châu Á (tháng 11-2025), nhiều nước trong các khối CPTPP và RCEP (trừ Trung Quốc) ít bị ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng tốt từ chính sách thuế quan của ông Trump phát biểu ngày 31-7-2025, vì thuế quan của Mỹ áp dụng cho Trung Quốc cao hơn nhiều so với nước khác, tạo thành hiệu ứng chuyển hoán mậu dịch có lợi cho những nước ngoài Trung Quốc. Nếu thâm sâu, tăng cường các nội dung hợp tác của CPTPP và RCEP thì lợi ích của hầu hết các nước thành viên trong hai tổ chức kể trên sẽ càng lớn hơn.

    Điểm thứ ba đang manh nha khuynh hướng lập lại trật tự cho tự do thương mại trong tương lai. Nếu những nước đang xin gia nhập hiện nay như Indonesia và Trung Quốc thực sự trở thành thành viên thì CPTPP sẽ chiếm 35% GDP thế giới. Nếu EU tham gia thì tỷ lệ đó lên tới 53%. Trong tương lai, nếu Ấn Độ, Brazil... tham gia thì tỷ trọng của CPTPP trong GDP còn cao hơn nữa.

    Chiến lược, chính sách của Việt Nam

    Trong vòng xoáy của trật tự kinh tế toàn cầu và khuynh hướng mới đang manh nha, Việt Nam cần điểm lại mô hình phát triển trong thời gian qua và có những điều chỉnh chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng và ổn định trong giai đoạn tới.

    Trước hết là nhận định đúng đắn về tình hình hội nhập và cơ cấu ngoại thương.

    Thứ nhất, Việt Nam hội nhập nhanh và sâu vào kinh tế thế giới. Tỷ lệ xuất nhập khẩu trên GDP đã tăng từ 110% năm 2010 lên 170% năm 2024. Đó là tỷ lệ rất cao của một nước có trên 100 triệu dân.

    Thứ hai, Việt Nam vừa hội nhập sâu vừa nghiêng về hai nền kinh tế lớn nhất thế giới: xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào thị trường Mỹ và nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc. Xuất khẩu vào thị trường Mỹ so với GDP lên tới trên 30% (hình 1) và nhập từ Trung Quốc so với GDP lên tới 35% (hình 2). Cả hai chỉ tiêu đều tăng nhanh so với năm 2010 và ở mức rất cao so với các nước khác ở châu Á.

    Thứ ba, tính chất của sự phụ thuộc cao vào Mỹ và Trung Quốc cũng làm cơ cấu công nghiệp Việt Nam yếu kém và dễ bị rủi ro trước sự đối đầu Mỹ - Trung Quốc. Hiện nay Việt Nam nhập khẩu linh kiện và sản phẩm sơ chế từ Trung Quốc (và Hàn Quốc) và xuất khẩu sang Mỹ nhiều sản phẩm gia công lắp ráp. Việt Nam lại xuất siêu nhiều với Mỹ (104 tỉ đô la Mỹ năm 2024) và nhập siêu nhiều với Trung Quốc (83 tỉ đô la Mỹ). Như vậy chất lượng của công nghiệp hóa Việt Nam còn thấp và dễ bị Mỹ phê phán là nơi trung chuyển hàng Trung Quốc xuất sang Mỹ.

    Thứ tư, phân tích cơ cấu nhập khẩu của Mỹ ta thấy Việt Nam có lợi thế so sánh trong những mặt hàng có hàm lượng lao động cao. Trong những mặt hàng này, Việt Nam chiếm tới gần 18% trong khi về tổng thể chỉ chiếm 3,5% trong tổng nhập khẩu của Mỹ. Hình 3 cho thấy trong các mặt hàng này, Việt Nam ngày hàng thay thế vị trí của Trung Quốc tại thị trường Mỹ. Nếu không thay đổi cơ cấu lợi thế so sánh, trong tương lai khi các nước có chi phí lao động rẻ hơn đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam sẽ gặp khó khăn trên thị trường Mỹ và thế giới.

    Từ những phân tích ở trên, ta thấy Việt Nam cần thay đổi mô hình tăng trưởng và hội nhập, và tích cực có các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cụ thể như sau:

    Một là, trong tình hình bất định của địa kinh tế thế giới, để kinh tế phát triển ổn định, Việt Nam cần dựa nhiều hơn vào nhu cầu nội địa. Tuy vẫn tận dụng ngoại lực, tận dụng thị trường nước ngoài nhưng phần tăng trưởng dựa nhiều hơn vào nhu cầu nội địa sẽ giảm bớt độ phụ thuộc vào bên ngoài. Với quy mô dân số hiện nay, thị trường trong nước cũng quan trọng. Chú trọng nhu cầu nội địa, nhất là tăng tỷ lệ chi tiêu cá nhân cũng làm cho đời sống dân chúng chóng cải thiện trong quá trình tăng trưởng.

    Hai là, thay đổi mô hình công nghiệp hóa theo hướng mở rộng, thâm sâu. Cụ thể là có chính sách công nghiệp năng động, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc. Chi tiết về điểm này, gần đây tôi đã viết trên Kinh tế Sài Gòn (Nhìn lại con đường công nghiệp hóa của Việt Nam, 18-12-2025).

    Ba là, Việt Nam nên điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo hướng vừa thay đổi mô hình công nghiệp hóa nói trên vừa tránh rủi ro bị phê phán là nơi trung chuyển hàng xuất khẩu từ Trung Quốc. Những năm gần đây FDI từ Trung Quốc và Hồng Kông tăng mạnh nhưng phần lớn vẫn theo mô hình cũ của công nghiệp hóa Việt Nam. Mặt khác FDI từ Mỹ rất ít trong khi Mỹ đầu tư nhiều vào các nước ASEAN khác. Tại Việt Nam, vào cuối năm 2024, lũy kế vốn FDI của Trung Quốc (30,8 tỉ đô la Mỹ) và Hồng Kông (38,7 tỉ đô la Mỹ) cộng lại lên tới gần 70 tỉ đô la Mỹ, trong khi của Mỹ chỉ có 11,9 tỉ đô la Mỹ. Trong 11 tháng đầu năm 2025, Trung Quốc xếp thứ hai và Hồng Kông xếp thứ ba (cộng lại là thứ nhất) trong khi Mỹ thứ tám. Để so sánh, tại 10 nước ASEAN, tính chung FDI của hai năm 2023 và 2024 cộng lại, Mỹ chiếm tới 29,1% trong khi Trung Quốc chỉ có 8,4%. Việt Nam cần thu hút FDI từ Mỹ nhiều hơn để tranh thủ công nghệ cao và tạo một sự thăng bằng giữa hai nước lớn. Như vậy sẽ góp phần cải thiện quan hệ kinh tế với Mỹ.

    Bốn là, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào thị trường Mỹ. Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do và là thành viên của thị trường chung ASEAN nên còn nhiều dư địa để tăng xuất khẩu sang các thị trường này.

    Năm là, liên quan đến điểm bốn, Việt Nam nên đóng vai trò tích cực trong việc tăng cường các nội dung hợp tác trong CPTPP và RCEP để có vị trí quan trọng và tạo uy tín quốc gia trong quá trình hình thành trật tự kinh tế thế giới mới.

    GS. Trần Văn Thọ - Theo TheSaigonTimes

    THỐNG KÊ TRUY CẬP
    • Đang online 24
    • Truy cập tuần 2357
    • Truy cập tháng 10765
    • Tổng truy cập 765174